Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2011

Diễn đàn 80 năm Đoàn TNCS Hồ Chí Minh




Hòa trung với khí thế sôi nổi chào mừng 80 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/03/1931-26/03/2011). Được sự quan tâm, chỉ đạo của Đoàn cấp trên; Được sự ủng hộ, tạo điều kiện của Chi bộ, lãnh đạo Sở. Sáng ngày 14/03/2011 Chi đoàn Sở Thông tin và Truyền thông tổ chức Diễn đàn: “Ôn lại truyền thống vẻ vang 80 năm Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và viết tiếp tương lai của đoàn viên chi đoàn sở Thông tin và Truyền thông”.

Chi đoàn sở thông tin và truyền thông là một chi đoàn với tuổi đời còn non trẻ. Từ khi mới thành lập chỉ có 6 Đoàn viên, đến nay chi đoàn đã phát triển lên 30 đoàn viên. Với lợi thế của một chi đoàn thực hiện nhiệm vụ chuyên môn là quản lý nhà nước và hoạt động trong lĩnh vực thông tin và truyền thông – một lĩnh còn non trẻ nhưng đã khẳng định được vị thế và vai trò của mình trong thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của kinh tế xã hội, phục vụ đắc lực an ninh quốc phòng. Với lợi thế này, chi đoàn luôn được bổ sung các đồng chí đoàn viên mới, tuổi đời còn trẻ, hăng hái sáng tạo, nhiệt tình sổi nổi không chỉ trong công tác chuyên môn mà còn trong các hoạt động đoàn. Nhờ vậy chi đoàn đã tổ chức được nhiều hoạt động phong phú và ý nghĩa thiết thực, được Đoàn cấp trên, Chi bộ sở ghi nhận và đánh giá cao. Đoàn viên chi đoàn đã khởi động Năm thanh niên với số hoạt động nghĩa như: Phát động cuộc thi viết cảm nhận của Đoàn viên thanh niên Sở TT&TT nhân kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí minh; quyên góp ủng hộ hai trường hợp các em nhỏ có hoàn cảnh khó khăn ở hai huyện Thông Nông và Trà Lĩnh với tổng số tiền ủng hộ là 770.000 VNĐ và quần áo cũ còn sử dụng được để phần nào giúp các em ấm áp hơn trong mùa đông lạnh giá…

Với những thành tích trong hoạt động đoàn, Chi đoàn đã được Đoàn Khối các cơ quan tỉnh giao tổ chức diễn đàn điểm nhân đợt hoạt động kỷ niệm chào mừng 80 năm thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có sự tham dự chứng kiến của Chi bộ, lãnh đạo sở, đại diện đoàn cấp trên, đại diện các chi đoàn bạn, các cựu cán bộ đoàn.
Chi đoàn đã tổ chức cho đoàn viên có các hoạt động tìm hiểu truyền thống 80 năm vẻ vang của Đoàn bằng các hình thức phong phú, sinh động, dễ tiếp thu và có ý nghĩa thu hút đông đảo đoàn viên tham gia, tạo không vui tưới phấn khởi, đoàn viên chi đoàn có thêm kiến thức về truyền thống đoàn.
Cũng trong chương trình diễn đàn, chi đoàn đã tổ chức trao danh sách đoàn viên ưu tú năm 2011 cho cấp ủy, khen thưởng cho đoàn viên có thành tích xuất sắc nhân đợt hoạt động kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Đoàn, và khen thưởng cho các đoàn viên đạt giải trong cuộc thi “Viết cảm nhận của đoàn viên thanh niên sở thông tin truyền thông nhân kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Đoàn”.

Thứ Hai, 14 tháng 3, 2011

“Viết cảm nhận của đoàn viên thanh niên sở thông tin truyền thông nhân kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Đoàn”

Theo dòng lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã kiên cường, bất khuất trải qua biết bao gian lao thử thách, không chịu khuất phục trước ách thống trị của phong kiến phương Bắc, sau này là ách đô hộ của thực dân, đế quốc phương tây. Nhân dân ta đã kiên trì bền bỉ, từng bước đi đến giành thắng lợi cuối cùng trong các cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ để giành độc lập dân tộc, xây dựng đất nước ngày một giàu đẹp. Để có một đất nước hòa bình, tươi đẹp hiện đại như ngày hôm nay đã có biết bao người con của dân tộc đã anh dũng hy sinh, họ nằm xuống để bảo vệ đất nước thoát khỏi ách thống trị của giặc ngoại xâm. Lòng dũng cảm, sự hy sinh anh dũng của những người con đất Việt thật to lớn và vĩ đại mà không ai có thể phủ nhận và Bác Hồ là biểu trưng cho đức hy sinh vĩ đại ấy. Nói đến Bác Hồ là nói đến tấm gương bền gan vững chí, không ngại khó khăn gian khổ để tiến tới cái đích cuối cùng của mình. Bác cũng là người có công rất lớn trong công cuộc giải phóng đất nước, dân tộc khỏi ách đô hộ. Trong trái tim những người con Việt Nam, Người mãi là vị lãnh tụ vĩ đại, người cha già muôn vàn kính yêu của cả dân tộc Việt. Người đã ra đi nhưng tâm hồn của người vẫn luôn sống mãi trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Tất cả mọi người là công dân Việt Nam nói riêng và những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới nói chung đều biết ơn và kính trọng Bác - Người Chủ tịch vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của dân tộc Việt Nam. Bác tuy không còn nhưng lời dạy của Bác vẫn luôn sống mãi với thời gian, và sống mãi trong tim những người con đất Việt qua bao thế hệ:

“Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên”

Tôi chắc rằng, là thanh niên Việt Nam ai cũng đã từng một lần nghe và đọc lên những vần thơ trên. Tuy nhiên không phải ai cũng rõ hoàn cảnh ra đời của những vần thơ đó và bài hát “Thanh niên làm theo lời Bác” của Nhạc sỹ Hoàng Hòa ra đời như thế nào? Để hiểu hơn về giá trị của những vần thơ cũng như ý nghĩa của những lời hát “Thanh niên làm theo lời Bác”, qua tìm hiểu tôi được biết:

“Liên phân đội TNXP 312 nhận trọng trách bảo vệ cầu Nà Cù (thuộc huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Cạn), nằm trên tuyến đường từ thị xã Bắc Cạn đi Cao Bằng. Cầu Nà Cù lúc này không những đã trở thành mục tiêu ném bom bắn phá của máy bay địch, mà còn có nguy cơ bị nước lũ cuốn trôi. Buổi chiều 28-3-1951, các thành viên trong đội được trên phổ biến đến tối sẽ có phái đoàn Chính phủ ghé thăm. Chừng 8 giờ tối, sau khi nghe tiếng còi ôtô vọng lên từ dưới quốc lộ 3, cách nơi đóng quân của đội hơn 100m, thấp thoáng ánh đèn pin ngày càng gần. Bỗng từ đoàn người đi tới tách ra một cụ già bước rất nhanh về phía đống lửa trại. Không ai bảo ai mọi người đứng hết cả dậy và đồng thanh reo: “Bác Hồ, Bác Hồ”. Bác giơ tay chào và ra hiệu cho các chiến sĩ TNXP ngồi xuống. Đoạn Bác đi một vòng quanh đống lửa để mọi người có thể nhìn rõ hơn. Lúc này, các chiến sĩ mới nhìn kỹ Bác mặc bộ kaki, chiếc khăn phula dài quấn quanh cổ (vì lúc này trời còn lạnh), tay cầm chiếc mũ cát. “Đây là TNXP tỉnh nào, chú Kế? - Bác quay sang hỏi đồng chí Ngô Kế, phụ trách liên phân đội.

“Thưa Bác, chúng cháu là đội Vĩnh Phú ạ”. “Ở đây ai ít tuổi nhất?”. Bác nhìn khắp lượt các chiến sĩ, sau đó bước tới xoa đầu cậu bé của đội lúc đó mới 14 tuổi đang rụt rè đứng lên. Sau đó, Bác Hồ hỏi thăm sức khỏe anh chị em trong đội: “Từ Vĩnh Phú đi lên đây thế nào, có ai nhớ nhà không?” Mọi người thật thà trả lời đi mất bốn ngày, kể cả nghỉ ngơi sinh hoạt học tập. Bác cười hóm hỉnh: “Các cô các chú đi chậm quá. Còn Bác một đêm có khi được 40km”.

Rồi Bác chuyển sang nói chuyện thời sự. Trước tiên Bác nói về Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo kháng chiến thế nào, cần những điều kiện gì, đòi hỏi gì ở Đảng viên, cán bộ. Bác hỏi anh chị em TNXP: “Với những điều kiện như thế thì ở đây ai có thể trở thành đảng viên được?”. Mọi người nhìn nhau trong giây lát rồi mạnh dạn trả lời: Cần phải có giác ngộ cách mạng; cần phải là người “thuần túy” (nghĩa là vô sản triệt để)... Bác liền chấn chỉnh: “Các cô, các chú là xuất thân từ nông thôn, cần diễn đạt cho hiểu, không nên dùng chữ nghĩa rắc rối”. Rồi Bác căn dặn: “Đã là TNXP thì bất cứ việc gì trên giao dù dễ hay khó, to hay nhỏ, ở lĩnh vực nào cũng đều phải xung phong. Rồi Bác hỏi: “Các cháu có thấy người ta đào được núi không?”. “Thưa Bác, chúng cháu đang đào núi đây ạ”. “Thế có thấy ai lấp được biển không?”. Anh chị em trong đội nhìn nhau bí quá không biết trả lời như thế nào, vì mới chỉ nghe kể về biển chứ đã ai được trông thấy tận mắt. Thấy tất cả im lặng, Bác kể chuyện ở Hải Phòng nhân dân lấn biển để lấy đất trồng trọt như thế nào cho anh chị em nghe.

Đoạn Bác Hồ nói: “Bây giờ Bác tặng các cháu mấy câu thơ để các cháu ghi nhớ và phấn đấu mỗi khi làm việc”:

“Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên”.

Hoàng Hòa từng là Bí thư tỉnh đoàn Hưng Yên rồi ở Trung ương Đoàn là Ủy viên Ban chấp hành khóa 2, khóa 3, giữ cương vị Thường vụ Trung ương Đoàn suốt từ năm 1967 đến 1981. Năm 1953, vào một sáng tháng 3 trong lần đi công tác tại khu du kích Đông Hồ (Hưng Yên) tình cờ anh được đọc báo Cứu quốc có in bài tường thuật Bác Hồ tới thăm một tổ TNXP tại Việt Bắc. Bốn câu thơ trong bài báo đã cuốn hút tâm hồn anh. Anh nảy ra một ý nghĩ phải làm thế nào để truyền bá được rộng rãi, nhanh chóng lời dạy của Bác cho thanh niên. Với cây đàn ghi ta, Hoàng Hòa bắt tay ngay vào phổ nhạc bốn câu thơ của Bác. Bài hát “Làm theo lời Bác” được ra đời rất nhanh. Ngay hôm ấy, thanh niên địa phương đã được hát bài hát này. Và cũng rất nhanh bài hát được phổ biến rộng cả tỉnh rồi toàn quốc.”

Hiểu về hoàn cảnh ra đời của bài hát, tôi ước muốn được một lần trải nghiệm như những người TNXP ngày ấy, để được bừng cháy trong ngọn lửa cách mạng và cũng để được hưởng niềm hân hoan, xúc động bồi hồi khi được gặp Bác Hồ – con người biểu trưng cho ý chí kiên cường bất khuất, lòng khát khao hòa bình của cả dân tộc.

Vâng, tôi hiểu rằng Bác Hồ là người đã trải qua muôn vàn khó khăn thử thách, cùng với nghị lực và lòng quyết tâm sắt đá của mình, Người đã kiên trì dấn thân trên con đường cứu nước dù biết còn rất nhiều chông gai phía trước. Hơn ai hết Người hiểu rất rõ giá trị của lòng quyết tâm và sự kiên trì bền bỉ đã được kiểm nghiệm bằng chính con đường đầy chông gai mà Người đã đi qua. Bằng kinh nghiệm của chính cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác đã truyền lời động viên tới đội Thanh niên xung phong ngày ấy, cổ vũ tinh thần chiến đấu, lao động của các thanh niên trẻ đang hừng hực khí thế đấu tranh bảo vệ đất nước lúc bấy giờ. Chỉ vẻn vẹn bốn câu thơ, nhưng bên trong mỗi câu thơ đó bao hàm rất nhiều cảm xúc và hành động. Khẩu hiệu mộc mạc, cô đọng ấy rất tự nhiên đã trở thành kim chỉ nam hành động cho lớp lớp các thế hệ trẻ Việt Nam ngày ấy và mãi mãi về sau khi được nhạc sỹ Hoàng Hòa thổi hồn, truyền thêm cảm xúc để trở thành bài hát “Thanh niên làm theo lời Bác”.

“Đi lên thanh niên, chớ ngại ngần chi,

Đi lên thanh niên, làm theo lời Bác.”

Cũng như bao thế hệ thanh niên Việt Nam hiện nay, tôi hiểu mình đang được sống trong một đất nước hòa bình thống nhất, không còn phải thể hiện lòng quyết chiến quyết thắng, bền chí đấu tranh, sẵn sàng chấp nhận hy sinh để bảo vệ đất nước như các thế hệ đi trước. Nhưng chúng tôi không được phép quên vì những điều đó mà mình có ngày hôm nay. Và tôi càng hiểu rằng lòng quyết tâm, bền chí của thể hệ trẻ ngày nay không được giảm sút đi mà cần được phát huy cao độ hơn bao giờ hết. Lời động viên ấy của Bác vẫn luôn đúng, vẫn luôn vang vọng trong tim, đồng hành cùng thế hệ trẻ theo muôn mặt của cuộc sống hiện tại, trên từng cương vị, lĩnh vực học tập, công tác khác nhau.

Trải nghiệm bản thân mình tôi nhận thấy, để học tập và “làm theo lời Bác”, mỗi người tùy vào hoàn cảnh, điều kiện riêng của mình để vận dụng cho phù hợp. Ví như tôi, khi mới bước chân rời khỏi mái trường phổ thông, cũng như rất nhiều bạn bè đồng trang lứa, có rất nhiều những ước mơ tốt đẹp về một tương lai tươi sáng. Chứ chưa hề lường tới những gian nan, thử thách mà mình sẽ phải đối mặt. Để rồi khi phải đối mặt với nó thì nghi ngại, lúng túng không biết mình có thể vượt qua,... Nhìn lại thử thách của mình thấy thật nhỏ bé biết bao so với muôn vàn thử thách mà người thanh niên ngày ấy (Bác Hồ) phải vượt qua với bước khởi đầu từ Bến Nhà rồng, anh đã xác định cho mình một mục tiêu cao cả và anh quyết tâm thực hiện mục tiêu ấy đến cùng. Anh ra đi tìm đường cứu nước chỉ bằng ý chí và nghị lực bản thân thể hiện ở hành trang là hai bàn tay trắng sẵn sàng làm tất cả để thực hiện ước mơ của mình – ước mơ cho cả dân tộc. Người thanh niên khi ấy còn rất trẻ đã tự đặt ra cái đích của con đường và tìm mọi cách phải vượt qua mà không quan tâm đến chặng đường ngắn hay dài, dễ đi hay khó đi, quanh co hay khúc khuỷu…

Đến bây giờ mỗi người dân Việt Nam ai cũng hiểu, con đường của người thanh niên ấy đã dẫn cả dân tộc Việt Nam đến một thời đại mới – thời đại của tự do, dân chủ, hạnh phúc, thời đại mang tên Hồ Chí Minh. Tấm gương sáng về ý chí và nghị lực ấy đã soi đường để tôi tiến bước, chí ít là đi được trong khả năng trên con đường của mình. Lời động viên sâu sắc đã được trải nghiệm thực tế của Bác đối với Thanh niên, không phải ở đâu xa, một minh chứng rõ ràng tôi nhận thấy đúng đối với bản thân mình: Tôi vốn là 1 người sống nội tâm, có đôi khi nhút nhát và thiếu tự tin, rất ít khả năng nổi bật. Khi được tập thể tín nhiệm bầu vào Ban chấp hành rồi làm Bí thư chi đoàn, tôi rất bối rối, một số suy nghĩ dao động hiện lên: Nghĩ rằng mình sẽ không đảm trách nổi nhiệm vụ, nghĩ rằng công việc thật quá khả năng của mình… Mất một thời gian để thích nghi với chức năng nhiệm vụ mới, tôi dần hiểu ra rằng ở đời không có ai là toàn diện, công việc mà người đi trước đã làm rất tốt thì tại sao mình lại không làm tốt được? Và tôi quyết tâm thực hiện thật tốt vai trò của mình – Một Bí thư Chi đoàn. Từ đó tôi cố gắng khắc phục dần những hạn chế, yếu điểm của bản thân, luôn chú ý học hỏi những khả năng mình còn yếu ở người khác, cố gắng nỗ lực trong từng bước đi của Chi đoàn. Và rồi, kết quả được đền đáp xứng đáng khi Chi đoàn có được nhiều thành tích trong các hoạt động đoàn, tiếp tục đạt danh hiệu “Tập thể vững mạnh”, được Đoàn cấp trên ghi nhận và khen thưởng thành tích. Tôi nhận thấy rằng, với cương vị là Bí thư Chi đoàn tôi đã tự tin hơn rất nhiều.

Giờ đây, đang là một cán bộ trẻ công tác tại phòng quản lý công nghệ thông tin, Sở Thông tin và Truyền thông tôi hiểu rằng mình đang công tác trong ngành còn non trẻ nhưng không kém phần quan trọng, mà theo chủ trương của Đảng và Nhà Nước đây là một ngành có tác động to lớn đối với sự phát triển chung của nền kinh tế - xã hội, nó kéo sự phát triển của đời sống xã hội cũng như mọi thành phần kinh tế, làm thay đổi cơ bản cách thức quản lý, học tập, làm việc của con người, góp phần to lớn thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Để gánh vác được trọng trách mà Đảng và Nhà nước đã giao phó, tôi ý thức được rằng mình cần nỗ lực phấn đấu không ngừng, cố gắng trong mọi lúc, mọi nơi có thể, để trau dồi, học tập kinh nghiệm cho bản thân, phát huy những ưu điểm, hạn chế dần những khuyết điểm của mình. Tôi biết rằng thực hiện những điều đó không thể mang lại kết quả trong một sớm một chiều mà cần rất nhiều thời gian minh chứng “chỉ sợ lòng không bền”, điều đó đòi hỏi ý chí và nghị lực, phấn đấu không ngừng của bản thân để biến niềm tin, sự mong mỏi thành sự thật “quyết chí ắt làm nên”.

Là một thanh niên thời đại Hồ Chí Minh, theo chủ quan của mình tôi nhận thấy rằng, thế hệ của chúng tôi là một thế hệ trẻ năng động và sáng tạo đi đôi với sự nông nổi và bồng bột của tuổi trẻ. Nên chúng tôi cần rất nhiều cố gắng để học hỏi ý chí, nghị lực của các thế hệ đi trước để hoàn thiện dần bản thân. Tôi có một niềm tin rằng, mỗi thanh niên Việt Nam thời đại hệ Hồ Chí Minh đều hội tụ đủ sự năng động và sáng tạo kết hợp với ý chí và nghị lực, thì chẳng mấy chốc dân tộc Việt Nam có thể “sánh ngang với các cường quốc năm châu” như điều mong mỏi của Bác.

Để xứng đáng với những thành quả mà Bác và thế hệ đi trước đã gây dựng, chúng tôi cần phải nỗ lực, phấn đấu không ngừng để làm cho đất nước Việt Nam ta ngày phát triển và mãi mãi tươi đẹp, phát triển ngang bằng không chỉ với các nước hiện đại trong khu vực mà còn “sánh ngang với các cường quốc năm châu”. Bây giờ và mãi mãi về sau, tích cực học tập và làm theo lời Bác là chúng tôi đã trở thành người công dân tốt, xứng đáng là chủ nhân của đất nước, tạo nên một nền tảng vững chắc để xây dựng đất nước phồn thịnh. Thế hệ chúng tôi xin nguyện hát mãi lời ca “Đi lên thanh niên… làm theo lời Bác”.

“Nâng cao ý thức trách nhiệm hết lòng, hết sức phụng sự tổ quốc, phục vụ nhân dân” gắn với kỷ niệm 40 năm thực hiện di chúc Bác Hồ

Kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là để nhớ về những sự kiện, những cột mốc lịch sử có tính bước ngoặt, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người chủ thật sự của đất nước, dân tộc ta từng bước thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu, Tổ quốc ta hoàn toàn độc lập - tự do - thống nhất. Đúng như tâm nguyện của Bác - “Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Lời di chúc ấy của Bác đã ăn sâu vào con tim khối óc và trở thành động lực thôi thúc thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay, đã và đang tiếp bước trên con đường cách mạng với sứ mệnh “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Thế hệ trẻ chúng tôi hôm nay được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất nhưng luôn luôn suy tư, trăn trở với trách nhiệm của mình trước những thời cơ và thuận lợi, thử thách và khó khăn đang đặt ra cho sự phát triển đi lên của đất nước. Câu hỏi đặt ra là: mỗi đoàn viên thanh niên chúng ta hôm nay làm gì và làm như thế nào để phát huy truyền thống cao đẹp, sự kỳ vọng tin tưởng của Đảng, của Bác Hồ và của nhân dân, để xứng đáng là lớp người kế thừa xuất sắc nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, khẳng định vai trò xung kích của tuổi trẻ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa?

Để trả lời câu hỏi đó, điều trước tiên bản thân tôi cũng như tuổi trẻ Sở Thông tin và Truyền thông Cao Bằng đã và đang xung kích thực hiện một chủ trương lớn của Đảng, đó là triển khai tốt việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh - người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam và Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Bằng những hành động thiết thực như: Cùng nhau xây dựng “Sổ vàng Thanh niên làm theo lời Bác” của chi đoàn, vận động đoàn viên chi đoàn viết “Nhật ký thanh niên làm theo lời Bác”; phát động cuộc thi viết bài “Đoàn viên thanh niên Sở TT&TT tìm hiểu và học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tổ chức tọa đàm “Tìm hiểu lịch sử Đảng Quang Vinh, Bác Hồ vĩ đại”... Đặc biệt, trong năm 2010 này, tuổi trẻ chi đoàn chúng tôi đang tự giác quyết tâm, nỗ lực tổ thi đua học tập và làm theo chuyên đề “Nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”, gắn với kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu. Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng của chi đoàn nhằm tăng cường giáo dục truyền thống, truyền thụ lý tưởng cách mạng, nâng cao ý thức công dân, xây dựng lối sống văn minh, nghĩa tình; không ngừng nâng cao ý trí tiến thủ, ham học, tiếp thu tri thức thời đại; phát huy cao nhất hoài bão cống hiến, sức trẻ tình nguyện của đoàn viên thanh niên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và yêu cầu giữ gìn, phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Luôn khắc ghi ý nguyện của Bác. Tuổi trẻ chi đoàn Sở TT&TT, xin nguyện ra sức thực hiện những lời dạy thiêng liêng của Người, đó thực sự là mệnh lệnh đặt ra trong mỗi trái tim của những người cộng sản trẻ tuổi. Trong các hoạt động đoàn đòi hỏi tinh thần của tuổi trẻ như: Các hoạt động tình nguyện giúp dân giúp dân làm đường, sửa nhà; các hoạt động nhân đạo, quyên góp vì cuộc sống cộng đồng… Đoàn viên chi đoàn luôn hăng hái, nhiệt tình, hết lòng, hết sức ủng hộ tham gia.

Gắn với công tác chuyên môn, chúng tôi hiểu rằng học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về “Nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân” trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức, viên chức trước hết phải tuyệt đối trung thành với lợi ích của đất nước, của dân tộc, đặt độc lập, dân tộc, chủ quyền và lợi ích quốc gia lên trên hết. Ra sức phấn đấu, đem hết tài năng, sức lực cống hiến cho độc lập, tự do của Tổ quốc, cho sự phát triển của đất nước mạnh giàu, dân chủ, văn minh, theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và dân tộc đã lựa chọn. Việc học tập phải thể hiện cụ thể bằng những hành động thiết thực, hoàn thành nhiệm vụ, chức trách được giao, làm tốt những công việc hằng ngày, nhất là những việc liên quan trực tiếp đến đời sống người dân.

- Kính thưa các đồng chí!

Với tình thương yêu, sự tin tưởng tuyệt đối thế hệ trẻ, trước lúc đi xa Người đã để lại những lời dặn dò trong di chúc “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”. Để không phụ lòng tin của Bác, thế hệ trẻ hôm nay cần phát huy truyền thống “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”, tinh thần “dám nghĩ dám làm” vượt mọi khó khăn thử thách vươn lên xây cuộc sống mới, xứng đáng là đội hậu bị tin cậy của Đảng, luôn luôn ở trong tư thế sẵn sàng tiên phong, thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm của mình.

Là một người đoàn viên thanh niên, đồng thời là một cán bộ công chức. Để nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, cần kiên quyết đấu tranh, phê phán những biểu hiện xa rời dân, quan liêu, mệnh lệnh, tham ô lãng phí, “dĩ công vi tư” trong một bộ phận cán bộ, công chức hiện nay, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền. Trong công tác hàng ngày mỗi cán bộ, công chức, viên chức cần luôn thấm nhuần lời căn dặn của Người:

“Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân...

Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm

Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh...”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, anh hùng giải phòng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới; tuy Người đã đi xa, nhưng để lại cho chúng ta một di sản tinh thần vô cùng to lớn, những tư tưởng vô giá, những giá trị nhân văn cao cả, trong đó đặc biệt là tư tưởng đạo đức cách mạng. Suốt cả cuộc đời, Người hy sinh cho sự nghiệp cách mạng, cho dân tộc độc lập, cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân và cho toàn nhân loại.

Tấm gương đạo đức của Người là tấm gương của một vĩ nhân, một lãnh tụ cách mạng vĩ đại, một người chiến sĩ vĩ đại nhưng đồng thời là tấm gương đạo đức của một người bình thường, ai cũng có thể học theo, làm theo để trở thành một người cách mạng, người công dân tốt của xã hội.

Vấn đề đặt ra cho mỗi cán bộ và cũng là nguyên tắc xây dựng đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay là phải trung với Đảng hiếu với dân, yêu thương con người, sống phải có nghĩa có tình, phải thật sự cần kiệm liêm chính chí công vô tư, nói phải đi đôi với làm, xây đi đôi với chống. Trong giai đoạn hiện nay cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương Hồ Chí Minh đòi hỏi đạo đức tài năng không phải là bẩm sinh, hoặc tạo hoá ban cho, hoặc chờ đợi người khác mang đến cho, mà phải đầu tư mở mang kiến thức, trải qua quá trình rèn luyện và tu dưỡng ở mỗi con người. Bác từng nói “không biết thì học, học để làm được, chỉ đòi hỏi có quyết tâm hay không”. Nếu có quyết tâm thì làm được hết vấn đề có ý nghĩa là phải xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ thực sự vừa hồng vừa chuyên, có phẩm chất chính trị vững vàng, tinh thông nghiệp vụ, thông thạo ngoại ngữ, có bản chất tốt tài năng để phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Xứng đáng là người đầy tớ trung thành của nhân dân.

Đối với bản thân tôi học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thường xuyên là cơ sở để hoàn thiện mình, vì đạo đức của mỗi người không tự nhiên xuất hiện, mà do mỗi người tự học tập, tu dưỡng và rèn luyện trong hoạt động thực tiễn và tiếp thu sự giáo dục, quản lý của tổ chức, tập thể, cộng đồng, gia đình và xã hội. Vì vậy, để giữ gìn và phát huy những giá trị cao đẹp đó, đòi hỏi mỗi người phải thường xuyên học tập, tu dưỡng, rèn luyện, tự hoàn thiện bản thân mình. Mọi sự buông thả, thiếu tự giác học tập, rèn luyện, tu dưỡng, xa rời sự quản lý, giáo dục của tập thể, cộng đồng, đoàn thể và gia đình là con đường dẫn tới hư hỏng, tự đánh mất chính bản thân mình. Chính vì vậy mỗi người chúng ta phải nhận thức đầy đủ vị trí của vấn đề đạo đức, thường xuyên tự giác, nỗ lực học tập, rèn luyện, tu dưỡng theo gương Bác Hồ vĩ đại.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, bản thân sẽ cống hiến hết sức mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hết lòng phục vụ nhân dân, góp phần làm cho đất nước Việt Nam trở thành một đất nước dân giàu nước mạnh, một xã hội công bằng dân chủ văn minh./.

Tôi nguyện theo chân Bác

Từ thủa ấu thơ, khi được nghe, được hát lên những lời ca yêu thương “Ai yêu Bác Hồ Chi Minh hơn thiếu niên nhi đồng, ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên Việt Nam...” trong suy nghĩ của một đứa trẻ lúc bấy giờ, tôi chỉ có thể hình dung và hiểu đơn thuần về Bác là một người “Bác” của cả dân tộc Việt Nam nói chung, thiếu nhi Việt Nam nói riêng. Qua những bài học trên lớp của thầy cô giáo và những lời kể của người lớn, tôi cũng hiểu một cách mơ hồ về Bác, một người vĩ đại, một vĩ nhân không chỉ của dân tộc Việt Nam mà còn của cả thế giới, và tôi đã lớn lên cùng với những suy nghĩ ấy. Cho đến hôm nay, khi đã trưởng thành và bước đầu trải nghiệm về cuộc sống, về xã hội, những suy nghĩ và tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp của Bác cũng dần được mở rộng và sâu sắc hơn. Lại thấy cảm phục hơn bao giờ hết tấm gương của người, tấm gương của một người trai trẻ khi ra đi tìm đường cứu nước chỉ bằng những hành trang là đôi bàn tay, khối óc của mình.

Không cảm phục Bác sao được, khi nghị lực và tài năng của Bác đã vượt ra khỏi tầm đất nước này. Với lòng quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, trước khi lên tàu rời bến Nhà Rồng, Bác đã cho thấy một tấm gương về ý chí và nghị lực phi thường qua câu chuyện về một anh Nguyễn xoè hai bàn tay không và trả lời “Đây, tiền đây” rồi một thân một mình dấn thân trên con đường cứu nước. Vì quê hương đất nước, vì dân tộc đang lúc cùng cực của mình. Bác đã vượt đại dương bao la, bôn ba nơi đất khách quê người, trải qua bao gian nan thử thách. Cùng viên gạch sưởi ấm qua cơn giá lạnh, với đôi bàn tay bưng bê đẫm mồ hôi nhưng vẫn chằng chịt chữ nghĩa, càng tôi luyện thêm ý chí và lòng quyết tâm nơi Bác. Với nghị lực, ý chí, lòng quyết tâm sắt đá hòa quyện cùng tình yêu quê hương đất nước, yêu đồng bào mình, Bác đã hiến dâng tất cả tình cảm, trí tuệ và cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Người đã để lại tài sản vô giá đó là tư tưởng và tấm gương đạo đức trong sáng, mẫu mực, cao đẹp, kết tinh những giá trị truyền thống của dân tộc, của nhân loại và thời đại. Có thể nói những phẩm chất đạo đức cơ bản của người Việt Nam trong thời đại mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là tấm gương của một vĩ nhân, một lãnh tụ cách mạng vĩ đại, nhưng cũng là một tấm gương đạo đức hết sức giản gị, ai cũng có thể học và làm theo để trở thành một người cách mạng, người công dân tốt. Vì vậy thật dễ hiểu tại sao bao nhiêu người yêu kính Bác, gọi bằng Bác và thậm chí thờ Bác một cách trân trọng, tại sao bè bạn thậm chí kẻ thù khắp năm châu đều một lòng vị nể Bác. Tôi hiểu, để học tập và làm theo tấm gướng đạo đức của Bác, mỗi người tùy vào hoàn cảnh, điều kiện riêng của mình để vận dụng cho phù hợp. Ví như tôi, khi mới bước chân rời khỏi mái trường phổ thông, cũng như rất nhiều bạn bè đồng trang lứa, có rất nhiều những ước mơ tốt đẹp về một tương lai tươi sáng. Chứ chưa hề lường tới những gian nan, thử thách mà mình sẽ phải đối mặt. Để rồi khi phải đối mặt với nó thì dao động, lúng túng. Tôi đã từng mù mịt khi trước mắt mình trải ra biết bao con đường, băn khoăn tự hỏi “đi đường nào đây?” “đường nào là ngắn nhất?” “đường nào dễ đi nhất?”, khi đặt chân lên rồi không biết con đường phía trước mình có thể vượt qua,... Nhìn lại mình hiện tại, nhớ về anh Nguyễn ngày xưa ra đi tìm đường cứu nước chỉ bằng ý chí và nghị lực bản thân, người thanh niên khi ấy còn rất trẻ đã tự đặt ra cái đích của con đường và tìm mọi cách phải vượt qua mà không quan tâm đến chặng đường ngắn hay dài, dễ đi hay khó đi. Tấm gương sáng về ý chí và nghị lực ấy đã soi đường để tôi tiến lên, chí ít là đi được trong khả năng trên con đường của mình. Giờ đây, đang là một cán bộ trẻ, một bí thư Chi đoàn tôi ý thức được rằng mình còn rất thiếu kinh nghiệm trong công tác chuyên môn, đặc biệt là trong công tác đoàn tôi biết mình còn rất nhiều hạn chế, uy tín trong tập thể chưa cao, bởi thế tôi cố gắng trong mọi lúc, mọi nơi có thể, để trau dồi, học tập kinh nghiệm cho bản thân, hạn chế dần những khuyết điểm của mình. Bên cạnh đó luôn giữ gìn lối sống trong sạch, giản dị và luôn đoàn kết gắn bó với đồng nghiệp, với đoàn viên, với nhân dân.

Bây giờ và mãi mãi về sau tôi vẫn luôn cố gắng rèn luyện mình theo tấm gương của Bác, tôi biết không khi nào tôi tiến đến được nhân cách cao vời như Bác, nhưng được đi trên con đường tiến tới nhân cách đó, tôi biết mình chẳng những không thể bị mai một mà sẽ còn trở nên ngày một tốt hơn. Tự nhủ với lòng mình, tôi nguyện theo chân Bác.

Dã ngoại ba bể (08/03)


Thứ Năm, 26 tháng 11, 2009

Bác làm việc






Bác hồ với thiếu nhi

Phần cuối

71. CÂU HÁT VÍ DẶM

Chiều ngày 18-5-1969, các diễn viên Đoàn văn công Quân khu 4 vào Phủ Chủ tịch biểu diễn để mừng thọ Bác 79 tuổi. Sau một số tiết mục, đến lượt chị Mai Tư hát dặm đò đưa: “Nước sông Lam biết khi mô cho cạn cũng như tinh thần cách mạng của dân ta...”. Bác hỏi mấy đồng chí ngồi xung quanh: “Có hay không các chú?”. “Thưa Bác hay ạ!”. Bác hỏi chị Mai Tư: “Trong ta chừ còn dệt vải nữa không?”. “ Dạ thưa Bác, có ạ!”. “ Rứa cháu có biết hát phường vải không?”. “ Dạ thưa Bác, có ạ!”. Bác bảo Mai Tư hát một câu mà các cụ ngày xưa hay hát, Mai Tư thưa với Bác: “Dạ, chúng cháu hát điệu phường vải nhưng không biết lời cũ ạ!”. Bác bảo: “Thì cháu lấy câu ni để hát nhé: “Khuyên ai chớ lấy học trò”. Cháu tiếp đi...”. “Dạ, thưa Bác, có phải dài lưng tốn vải ăn no lại nằm không ạ!”. “Giờ cháu tiếp câu nữa đi”. Mai Tư lúng túng không biết, Bác nhắc: “Lưng dài có võng đòn cong; áo dài đã có lụa hồng vua ban”. Mai Tư hát câu Bác vừa nhắc theo điệu hát ví Nghệ An. Đến lượt Minh Huệ, chị đứng dậy thưa: “Thưa Bác, bây giờ cháu xin hát điệu ru em, dân ca miền Trung theo lời cũ ạ! Rồi chị cất giọng “A ờ ơ... Ru em em ngủ cho muồi”, Bác sửa lại: “Ru tam tam théc cho muồi”. Minh Huệ hát tiếp: “Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu; Mua cau chợ Sải, mua trầu chợ Dinh”. Bác cười và nói: “Mua cau Cam Phổ chứ không phải chợ Sải”. Thế mới biết Bác Hồ đã từng đi năm châu bốn biển mấy chục năm trời mà vẫn không quên từng tên làng, ngõ xóm, từng câu hát ví dặm của quê nhà.

72. CHAI MẬT ONG DO BÁC TẶNG

Thường tối thứ bảy, Bác ra xem phim ngắn khoảng gần một tiếng tại Phủ Chủ tịch, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng xem với Bác. Buồng chiếu phim có anh em ở đơn vị bộ đội bảo vệ, anh em bảo vệ và phục vụ Bác. Thỉnh thoảng anh Vũ Kỳ lại tổ chức buổi hát hoặc ngâm thơ phục vụ Bác.

Tối ngày 31-5-1969 tại Phủ Chủ tịch, Bác và đông đủ các lãnh đạo Đảng, Nhà nước tới dự buổi ca múa nhạc nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi. Buổi tối hôm đó đã được ghi lại trên những thước phim, ảnh Bác ngồi giữa các cháu như ông tiên ngồi giữa bày cháu nhỏ. Lúc ra về, dọc đường Bác hỏi đồng chí Vũ Kỳ: Dưới hàng ghế có cụ nào ngồi đấy. Đồng chí Vũ Kỳ trả lời: Dạ, đó là cụ thân sinh của bác sĩ Mẫn. Bác nói:

- Sao không giới thiệu cho mình để mình bắt tay.

Vài ngày sau đồng bào Tây Bắc gửi về biếu Bác một chai mật ong, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ: Chai mật ong này để biếu ông cụ chú Mẫn.

Tôi (Lê Văn Mẫn) đưa về và kể cho bố tôi, bố tôi cảm động chảy nước mắt và giữ gìn chai mật ong cho tới lúc chết (hai năm sau đó)…

73. BÁC RẤT YÊU QUÝ CÁC CHÁU MIỀN NAM

Nắng tháng sáu rực rỡ. Những ngày tháng sáu năm 1969, Hà Nội từng bừng đón tin vui: Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam thành lập. Phái đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam chúng tôi được nâng lên thành Đoàn đại diện đặc biệt của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tại Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trụ sở của Đoàn những ngày này tấp nập đại biểu trong nước và nước ngoài đến chúc mừng.

Sáng 12 tháng sáu, chúng tôi vô cùng xúc động và phấn khởi được đón Bác Hồ đến chúc mừng bước trưởng thành của cách mạng Việt Nam.

Chúng tôi quây quần bên Bác, người Cha già yêu thương vô hạn. Bác ân cần hỏi thăm sức khoẻ anh chị em trong đoàn chúng tôi, hỏi han hoàn cảnh công tác, gia đình mỗi cán bộ, nhân viên, không thiếu một ai.

Bác nhờ Đoàn chuyển lời thăm hỏi thân ái của Người đến các vị trong Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và trong Hội đồng cố vấn Chính phủ. Bác cũng nhờ Đoàn chúng tôi chuyển lời khen ngợi đồng bào và bộ đội, các cụ phụ lão, chị em phụ nữ, các cháu thanh niên và nhi đồng miền Nam đã luôn luôn đoàn kết chặt chẽ, chiến đấu anh dũng, thắng lợi vẻ vang.

Bác lại đem kẹo chia cho các cháu và tất cả chúng tôi như lần đầu tiên Bác đến thăm Phái đoàn.

Một kỷ niệm thiêng liêng, sâu sắc nữa lại đến với tôi (Nguyễn Khánh Phương). Ngày 14 tháng sáu, anh Nguyễn Phú Soại và tôi nhận được tin Bác cho biết muốn gặp chúng tôi. Tôi vừa mừng, vừa lo.

Đúng bảy giờ, chúng tôi vào nhà Bác. Bác tiếp chúng tôi ngay tại nhà như những người thân trong gia đình. Tôi ngồi cạnh Bác và quạt cho Bác như con gái về thăm ba.

Bác thân mật nói: Hôm nay, Bác muốn gặp cô và chú để hỏi về tình hình các cháu học sinh miền Nam, Bác được báo cáo có một số cháu tiến bộ chậm.

Chúng tôi báo cáo với Bác về những cố gắng của Bộ Giáo dục, của thầy giáo, cô giáo các trường nhận dạy con em miền Nam và những cố gắng của Phái đoàn của chúng tôi về công tác này.

Không những Bác biết rõ tình hình ăn học của các cháu mà còn nêu cho chúng tôi tên những cháu ngoan và một số cháu chưa ngoan.

Bác dặn chúng tôi, đại ý: nếu để tình hình này kéo dài thì ba má và gia đình các cháu đang chiến đấu ở miền Nam sẽ kém yên tâm. Bác nhắc nhở chúng tôi là những người thay mặt cho cha mẹ các cháu phải đặc biệt quan tâm chăm sóc, giáo dục các cháu ngày càng tiến bộ. Bác động viên chúng tôi phải cố gắng và quyết tâm. Bác nêu rõ trách nhiệm phải nuôi dạy cho các cháu tiến bộ nhiều vì bản chất các cháu rất tốt, các cháu đều là mầm non của đất nước. Việc dạy dỗ, nuôi dưỡng đòi hỏi phải có lòng thật sự thương yêu các cháu…

Được ngồi bên Bác, nghe những lời chỉ bảo của Bác, tôi càng nhớ đồng bào miền Nam da diết.

Khi ra về, qua vườn nhà Bác, tôi nhìn thấy cây vú sữa đồng bào miền Nam gửi tặng Bác và Bác ngày ngày tự tay vun xới đã lớn lên, cao quá mái nhà đơn sơ của Bác. Tôi nhìn cây vú sữa mà nghĩ đến người Ông trồng cây cho con cháu ăn quả đời đời. Bác đã kêu gọi nhân dân miền Bắc trồng cây cho đất nước xanh tươi và Bác cũng không quên nhắc mọi người: “Chúng ta phải trồng cây cho đồng bào miền Nam nữa”. Bác nhắc: “Trồng cây nào tốt cây ấy”. Có những loại cây, Bác tự tay trồng và chăm bón cho đến khi ra hoa kết quả, rồi Bác lấy giống gửi tặng các địa phương để “nhân lên”. Bác dặn các cụ già và các tỉnh chú ý “nhân giống cho miền Nam, trồng nhiều cây miền Nam trong vườn kết nghĩa”. Bác luôn nghĩ đến việc ươm hạt giống cách mạng cho miền Nam. Miền Nam trân trọng những hạt mầm của Bác.

Tình cảm của Bác đối với đồng bào miền Nam sâu rộng hơn biển Đông. Tình yêu thương của Người đối với thanh niên, thiếu niên, nhi đồng Thành đồng mênh mông bát ngát. Giữa tháng 7-1969, trong buổi gặp mặt thân mật với chị phóng viên Cuba, Mácta Rôhát, Bác đã nói: “Ở miền Nam, những thanh niên dưới 25 tuổi không biết được thế nào là hai chữ “tự do”. Có thể nói rằng ở miền Nam, mỗi người, mỗi gia đình có một nỗi đau khổ riêng, và nếu mỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình gộp lại thì đó là nỗi đau khổ của tôi”.

74. CHIẾC RỄ ĐA TRÒN

Một buổi sớm, như thường lệ Bác tập thể dục rồi đi dạo trong vườn. Đến một gốc đa, Bác chợt thấy một chiếc rễ đa nhỏ và dài ngoằn ngoèo trên mặt cỏ. Đêm qua trời mưa bão chắc nó bị đánh rớt xuống. Bác đứng tần ngần một lát rồi quay lại bảo đồng chí phục vụ đi theo:

- Đừng vứt nó đi. Chú đem cuộn nó lại và giâm cho nó mọc tiếp.

Đồng chí phục vụ vâng lời, xới đám đất nhỏ và chôn chân nó xuống, nhưng Bác bảo:

- Không, chú nên làm thế này.

Bác vừa nói vừa cuộn chiếc rễ thành một vòng tròn. Đồng chí phục vụ làm theo sự hướng dẫn của Bác: cuộn tròn chiếc rễ lại và buộc cho nó tựa vào hai cái cọc…

Đồng chí phục vụ thắc mắc hỏi Bác:

- Thưa Bác, làm thế này để làm gì ạ?

Bác khẽ cười, gật gật đầu:

- Rồi chú khắc biết.

Ít lâu sau, chiếc rễ đa đã bám rễ và phát triển rất tốt. Và có một sự kỳ thú là đoàn thiếu nhi nào vào thăm vườn Bác, không ai bảo ai, bạn nào cũng thích chơi chui qua chui lại chiếc rễ đa mọc thành hình tròn xinh xẻo kia.

Lúc bấy giờ ai nấy mới chợt nhớ đến lời của Bác: “Rồi chú khắc biết”. Thì ra Bác của chúng ta chẳng những rất yêu các cháu thiếu nhi mà cũng rất hiểu thiếu nhi.

75. MIỀN NAM Ở TRONG TRÁI TIM TÔI

Suốt đời mình, Hồ Chủ tịch kiên quyết đấu tranh cho độc lập tự do của dân tộc, thống nhất của Tổ quốc. Đối với miền Nam, tình cảm của Bác vô cùng thắm thiết. Bác nói: “Miền Nam ở trong trái tim tôi”, “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”. Chưa giải phóng được miền Nam, Bác tự coi là nhiệm vụ làm chưa tròn, cho nên Người đã nói với Quốc hội khi Quốc hội có ý định trao huân chương Sao Vàng cho Người: “Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi huân chương cao quý đó”.

Những năm miền Nam chiến đấu chống Mỹ ác liệt, Bác đã có ý định vào miền Nam “để thăm đồng chí, đồng bào” và yêu cầu tổ chức để Bác đi. Bác nêu vấn đề một cách rất kiên quyết. Thấy Bác tuổi đã cao, sức khoẻ không còn được như trước, các đồng chí Bộ Chính trị đề nghị xin cố gắng cùng toàn dân đánh Mỹ mau thắng rồi mời Bác vào. Bác nói: “Tôi muốn vào là vào lúc này, chứ thắng rồi mới vào thì nói làm gì?”

Lâu lâu Bác lại nhắc lại vấn đề và hỏi việc chuẩn bị đến đâu rồi. Thấy Bác rất quyết tâm, các đồng chí phụ trách đành phải báo cáo đường đi rất khó khăn, vất vả, Bác đi không được. Bác nói : “Nếu không có đường nào khác thì tổ chức cho tôi đi bộ. Các chú đi được thì tôi đi được. Đi mỗi ngày một ít. Chưa chắc thua các chú đâu”.

Trong những năm cuối, tuy yếu mệt nhưng Bác vẫn tập đi bộ, tập leo dốc và nhiều khi leo những dốc khá cao. Các đồng chí đều can ngăn, nhưng Bác cứ leo. Bác muốn xem sức mình hiện nay thế nào và vẫn quyết rèn luyện để thực hiện ý định “vào miền Nam với đồng bào, đồng chí”.

Từ năm 1968 trở đi, Bác yếu nhiều hơn. Bác yêu cầu: hễ có đồng chí miền Nam nào ra thì phải cho Bác biết và đưa vào gặp Bác. Vì vậy, rất nhiều cán bộ, chiến sĩ miền Nam ra Bắc đã được vào thăm Bác, đặc biệt là các chị và các cháu. Mỗi lần gặp, Bác đều hỏi tình hình rất tỉ mỉ và Bác rất vui…

76. BỎ THUỐC LÁ

Hút thuốc lá là thú vui duy nhất của Bác như Bác thường nói. Nhưng từ khi bị bệnh, theo lời khuyên của Hội đồng thầy thuốc, Bác có kế hoạch quyết tâm bỏ dần. Bác nói:

- Bác hút thuốc từ lúc còn trẻ nay đã thành thói quen, bây giờ bỏ thì tốt nhưng không dễ, các chú phải giúp Bác bỏ tật xấu này.

Rồi Bác tự đề ra chương trình bỏ thuốc dần dần. Lúc đầu là giảm số lượng điếu hút trong ngày. Khi thèm hút thuốc Bác làm một việc gì đó để thu hút sự chú ý, tập trung. Tuổi đã già phải làm như vậy thật quá vất vả. Tập một thói quen, bỏ một thói quen không dễ chút nào. Phải có một nghị lực phi thường mới làm được. Bác bảo đồng chí giúp việc để cho Bác một vỏ lọ Pênixilin ở nơi làm việc và phòng nghỉ. Hút chừng nửa điếu Bác dụi đi để vào lọ đó. Sau hút lại nửa điếu để dành. Anh em can bảo thuốc lá hút dở không có lợi, Bác bảo: “Nhưng hút để có cữ”. Với cách làm đó, Bác đã giảm từ cả bao xuống còn ba, bốn điếu một ngày. Cứ như vậy Bác hút thưa dần.

Đầu tháng 3-1968, nhân khi bị cảm ho nhẹ, Bác tự quyết định bỏ hẳn. Mấy ngày sau, trong một tuần lễ anh em vẫn để gói thuốc trên bàn làm việc của Bác, nhưng Bác không dùng.

Một tháng sau, khi tiếp đồng chí Vũ Quang, lúc ấy là Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, Bác nói: Bác bỏ thuốc lá rồi, chú về vận động thanh niên đừng hút thuốc lá. Sau này Bác có bài thơ Vô đề:

“Thuốc kiêng rượu cữ đã ba năm,

Không bệnh là tiên sướng tuyệt trần.

Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn,

Một năm là cả bốn mùa Xuân”

77. BÀI HỌC VỀ SỰ TIẾT KIỆM

Trước kia, Thông tấn xã Việt Nam hàng ngày đều đưa bản tin lên cho Bác xem. Khi in một mặt, Bác phê bình là lãng phí giấy. Sau đấy Thông tấn xã in hai mặt bằng rônêô, nhoè nhoẹt khó đọc hơn nhưng Bác vẫn đọc. Sang năm 1969, sức khoẻ Bác yếu và mắt giảm thị lực, Thông tấn xã lại gửi bản tin in một mặt để Bác đọc cho tiện. Khi xem xong, những tin cần thiết Bác giữ lại, còn Người chuyển bản tin cho Văn phòng Phủ Chủ tịch cắt làm phong bì tiết kiệm hoặc dùng làm giấy viết. Ngày 10-5-1969, Bác đã viết lại toàn bộ đoạn mở đầu bản Di chúc lịch sử bằng mực xanh vào mặt sau tờ tin Tham khảo đặc biệt ra ngày 3-5-1969. Từ giữa năm 1969, sức khoẻ Bác yếu đi nhiều nên Bộ Chính trị đề nghị: Khi bàn những việc quan trọng của Đảng, Nhà nước thì Bác mới chủ trì, còn những việc khác thì cứ bàn rồi báo cáo lại sau, Bác cũng đồng ý như vậy. Tháng 7, Bộ Chính trị họp ra nghị quyết về việc tổ chức 4 ngày lễ lớn của năm: ngày thành lập Đảng, ngày Quốc khánh, ngày sinh Lênin và ngày sinh của Bác. Sau khi báo Nhân Dân đăng tin nghị quyết này, Bác đọc xong liền cho mời mọi người đến để góp ý kiến: “Bác chỉ đồng ý 3/4 nghị quyết. Bác không đồng ý đưa ngày 19-5 là ngày kỷ niệm lớn trong năm sau. Hiện nay, các cháu thanh thiếu niên đã sắp bước vào năm học mới, giấy mực, tiền bạc dùng để tuyên truyền về ngày sinh nhật của Bác thì các chú nên dành để in sách giáo khoa và mua dụng cụ học tập cho các cháu, khỏi lãng phí”.

78. TRÊN GIƯỜNG BỆNH

Đầu năm 1969, một chị cán bộ trong Nam ra thăm miền Bắc. Như bất cứ đồng bào miền Nam nào khác, khi tới thủ đô, chị mong ngày mong đêm được sớm thấy Bác Hồ. Một hôm, thật hết sức bất ngờ, chị được Trung ương gọi vào Phủ Chủ tịch gặp Bác!

Cùng tiếp khách với Bác hôm ấy có cả Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Gặp Bác, điều đầu tiên chị thưa với Bác là:

- Chúng cháu ở miền Nam, vâng theo lời Bác, không nề hy sinh gian khổ đánh Mỹ đến một trăm năm cũng không sợ. Chỉ sợ một điều là Bác trăm tuổi.

Chị đã nói ra cái điều mà mọi người hằng nghĩ, nhưng không ai dám và muốn nhắc đến. Một cái gì thoáng qua nhanh, rất nhanh, trên vầng trán, đôi mắt, đôi môi và chòm râu bạc của Bác. Bác quay lại hỏi Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Năm nay Bác bảy mươi mấy rồi, chú?

- Thưa Bác, năm nay Bác bảy mươi chín.

Bác mỉm cười, mắt ánh lên hóm hỉnh:

- Thì thì còn đến hai mươi mốt năm nữa Bác mới trăm tuổi. Bác kêu gọi các cô, các chú đánh Mỹ năm, mười năm, hai mươi năm chứ có bao giờ Bác nói hai mươi mốt năm đâu. Nếu hai mươi năm nữa mà ta thắng Mỹ thì Bác cũng còn một năm để vào thăm các cụ, các cô, các chú, các cháu miền Nam…

Thấy Bác nói vui như vậy, chị cán bộ miền Nam thấy vững lòng. Chị thầm tin rằng, rồi đây đánh Mỹ xong, thế nào Bác cũng sẽ vô thăm đồng bào miền Nam, để đồng bào miền Nam thoả lòng mong ước.

Trước ngày mồng 2-9-1969, Nha khí tượng phát đi một thông báo khô khan như thường lệ: “Cơn bão số 3…”

Tối hôm mồng một, không thấy Bác dự lễ mừng Quốc khánh, người dân thủ đô cảm thấy lo lắng. Chưa có thông báo chính thức thế nào về sức khỏe của Bác, nhưng nhân dân cũng biết Bác mệt nhiều.

Không biết tin ở đâu phát ra mà ở thủ đô từng nhóm người tụ tập đều truyền cho nhau nghe tin Bác mệt, và kể lại cho nhau nghe câu chuyện sau đây:

“Trên giường bệnh, Bác hỏi:

- Trong Nam mấy hôm nay đánh thế nào?

- Thưa Bác, anh em trong ấy đang đánh tốt lắm.

- Quốc khánh năm nay có đốt pháo hoa cho đồng bào vui không?”…

79. MÓN QUÀ CỦA MAĐƠLEN RIPHÔ

Chị Mađơlen Riphô - nhà báo Pháp đã từng sang Việt Nam nhiều lần và cũng nhiều lần may mắn được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kể một chuyện nhỏ về Bác Hồ như sau:

Trước đây, có lần Bác Hồ nói với tôi rằng: “Con gái ạ, nếu con muốn làm Bác vui lòng thì hôm nào đấy hãy gửi cho Bác những đĩa hát mà ngày xưa Môrixơ Sơvaliê thường hát hồi Bác ở Pari, lúc con còn chưa ra đời ấy”.

Tôi đã tìm kiếm được những đĩa hát ấy, khi người ta cho phát hành lại tất cả những gì Sơvaliê biểu diễn trước đây, nhân dịp ông 80 tuổi.

Tôi lưỡng lự khi gửi món quà khác thường này… Giả sử Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quên rồi thì sao? Liệu Người có cho vật gửi đi này là thất lễ không?

Tôi hỏi ý kiến một trong những đại biểu của nước Việt Nam đi dự hội nghị Pari, người ấy trả lời: “Chị cũng biết rồi đấy, Bác không bao giờ quên một điều gì cả đâu. Hãy cứ gửi cho Người những bài hát này đi. Chúng sẽ làm cho Bác nhớ lại thời thanh niên của mình và nhớ tới những người dân lao động Pari mà Bác vô cùng quý mến”.

Thế là tuần vừa rồi, hai ngày sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, tôi nhận được một bức thư viết từ ba tuần trước của Têô Rôngcô, phóng viên báo chúng tôi tại Hà Nội. Bức thư có đoạn: “Bác Hồ đã nhận được số đĩa hát. Người nghe các đĩa ấy một cách thích thú. Người rất hài lòng”.

Có lẽ khó mà diễn tả được nỗi xúc động của Mađơlen Riphô khi biết Bác Hồ đã vui lòng đến thế nào khi nhận được món quà nhỏ của chị gửi từ nước Pháp xa xôi.

Phần VII

61. KIÊN TRÌ CHỐNG LẠI TUỔI GIÀ VÀ BỆNH TẬT

Sang đến năm 1967, Bác Hồ đã già và yếu đi nhiều. Nhưng ngày ba bữa, Bác vẫn tự mình từ nhà sàn đi bộ đến nhà ăn. Một phần không muốn phiền anh em phục vụ, phần nữa Bác muốn đặt ra cho mình một kỷ luật, buộc mình phải vận động, rèn luyện chống lại cái suy yếu của tuổi già. Các đồng chí phục vụ Bác rất áy náy. Phần thương Bác vất vả, ngày nắng còn ngày mưa; phần lo Bác già yếu, chẳng may vấp ngã, nếu có chuyện gì thì ảnh hưởng lớn đến công việc của đất nước, của Đảng. Ngày đó, con đường quanh ao cá chưa được tôn tạo như hiện nay. Sau những trận mưa to, đường đi còn ngập nước. Nhưng đến giờ ăn, dù đang còn mưa Bác vẫn xắn quần quá đầu gối, cầm ô, cùng đồng chí bảo vệ lội nước đi sang nhà ăn. Nhìn ống chân Bác gầy, nổi gân xanh, anh em thương Bác trào nước mắt nhưng không sao thuyết phục được Bác cho phép dọn cơm lên nhà sàn. Bác nói: “Các chú muốn chỉ một người vất vả hay muốn cho nhiều người cũng phải vất vả vì Bác?”. Có hôm, buổi sớm Bác vừa thay quần áo xong, đến bữa, gặp trời mưa, Bác không muốn các đồng chí phục vụ phải giặt nhiều, Bác cởi quần dài, gập lại, cắp nách, sang đến nơi Bác mới mặc vào. Bác không muốn làm phiền ai. Tuy vậy, các đồng chí phục vụ Bác vẫn cố gắng tìm mọi cách để có thể thay đổi được tình hình ấy. Một hôm, Bác mời chị Trần Thị Lý, nữ anh hùng Quảng Nam vào ăn cơm với Bác. Hôm đó, ngày 3-7-1967, trời mưa rất to. Đồng chí Vũ Kỳ cho dọn cơm ngay bên dưới nhà sàn để Bác ăn cùng chị Lý. Thương chị Lý thương tật, đau yếu, đường mưa trơn đi lại khó khăn, lần đầu tiên bữa đó Bác Hồ đồng ý ở lại ăn cơm dưới nhà sàn. Hôm sau, các đồng chí phục vụ lại dọn cơm dưới nhà sàn mời Bác ăn, coi như đã là một tiền lệ và không thỉnh thị Bác. Nhưng Bác cho gọi đồng chí Vũ Kỳ đến và phê bình: “Các chú muốn để Bác hư thân đi có phải không?”. Ý Bác đã rõ ràng. Bác muốn mỗi ngày ba bận, mỗi bữa ăn, đi vòng quanh hồ một lần như một kỷ luật bắt buộc phải rèn luyện đối với mình. Làm Chủ tịch nước rồi, trở thành lãnh tụ kính yêu của cả giai cấp và dân tộc rồi, Bác Hồ vẫn không ngừng rèn luyện. Vì vậy, ở vị trí càng cao, càng nổi tiếng, tinh hoa, phẩm chất, đạo đức của Bác càng sáng, càng trong.

62. NHỮNG TẤM HUÂN CHƯƠNG CAO QUÝ

Quốc hội khoá II, kỳ họp thứ 6, đúng vào dịp chuẩn bị kỉ niệm lần thứ 73 ngày sinh của Bác kính yêu. Trong kỳ họp này, các đại biểu đã nhất trí đề nghị Quốc hội trao tặng Bác Hồ huân chương cao quý nhất của Nhà nước ta. Biết tin ấy, Bác Hồ rất cảm động. Bác nói: “Tôi vừa nhận được một tin tức làm tôi rất cảm động và sung sướng. Đó là tin Quốc hội có ý định tặng cho tôi Huân chương Sao vàng, huân chương cao quý nhất của nước ta. Tôi xin tỏ lòng biết ơn Quốc hội. Nhưng tôi xin Quốc hội cho phép tôi chưa nhận huân chương ấy. Vì sao? Vì huân chương là để thưởng người có công huân, nhưng tôi tự xét chưa có công huân xứng đáng với sự tặng thưởng cao quý của Quốc hội”. Bác nhắc đến đồng bào miền Nam đang sống khổ cực dưới chế độ dã man của đế quốc Mỹ và tay sai, đang anh dũng kiên quyết đấu tranh xứng đáng với danh hiệu “Thành đồng Tổ quốc” và xứng đáng được tặng huân chương cao quý nhất, vì những lẽ đó, Bác đề nghị với Quốc hội: “Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi huân chương cao quý. Như vậy thì toàn dân ta sẽ sung sướng vui mừng”. Năm 1967, Đảng, Chính phủ và nhân dân Liên Xô quyết định tặng Bác Huân chương Lênin – huân chương cao quý của Nhà nước Xôviết - nhưng Bác cũng từ chối, hẹn đến ngày đất nước Việt Nam thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà. Nhưng đến ngày vui đại thắng ấy đã không có Bác. Và cho đến lúc đi xa, trên ngực Bác vẫn không một tấm huy chương.

63. BÁC NHỚ CÁC CHÁU

Tháng chạp năm 1968, các dũng sĩ thiếu niên miền Nam đang học ở Tả Ngạn thì có mấy chú đưa xe ô tô đến đón về Hà Nội. Luyện, Thu, Nết, Phổ, Mên, Hoà… chưa hiểu có chuyện gì. Về Thủ đô hôm trước thì năm giờ chiều ngày hôm sau có xe đến đón đi.

Vào đến sân Phủ Chủ tịch mới biết là được gặp Bác Hồ.

Vừa bước chân xuống xe, đã nhìn thấy Bác Hồ và Bác Tôn ngồi ở một cái ghế gỗ dài kê trước cửa nhà, tất cả chạy ào tới chào Bác.

Bác cháu trò chuyện với nhau. Sau đó hai Bác bảo:

- Thôi, các cháu vào ăn cơm với hai Bác!

Bữa cơm chẳng có thịt cá gì nhiều nhưng rất ấm cúng. Các dũng sĩ thiếu niên được ngồi ăn cùng Bác Hồ và Bác Tôn. Nết, người nhỏ quá, cái đầu chỉ lấp ló cạnh bàn được Bác gắp thức ăn cho luôn.

Vừa ăn, Bác cháu vừa nói chuyện rất vui. Ăn xong, hai Bác cho mỗi cháu một bông hồng, một quả táo, một quả lê và ba quyển sách “Người tốt việc tốt”. Sau đó, Bác Hồ bảo:

- Các cháu lại cả đây hôn hai Bác rồi ra về.

Các dũng sĩ hôn hai Bác xong, Bác Hồ lại dặn:

- Các cháu về trường cố gắng học tập cho giỏi.

Tất cả đều rất cảm động. Đoàn Văn Luyện lên tiếng thưa với Bác:

- Thưa Bác, chúng cháu cứ tưởng hai Bác gọi các cháu về có việc cần.

Bác Hồ cười hiền từ và bảo:

- Hai Bác nhớ các cháu cho nên gọi các cháu về để hai Bác gặp hỏi chuyện.

Nghe Bác nói, Luyện và các bạn cảm động, muốn trào nước mắt. Hai Bác tuổi đã cao, trăm nghìn công việc, vậy mà hai Bác vẫn nhớ đến các cháu miền Nam. Luyện nghĩ: “Mình được ở ngoài Bắc mà hai Bác còn lo và thương như vậy, các bạn còn ở trong Nam, hai Bác còn lo và thương biết chừng nào!...

64. GIỜ NÀY MIỀN NAM ĐANG NỔ SÚNG

Tết Mậu Thân năm 1968 đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Tết năm ấy, do điều kiện sức khoẻ, Bác Hồ đi nghỉ và chữa bệnh ở nước ngoài. Tuy ở xa Tổ quốc, nhưng Bác luôn luôn theo dõi sát những thành tích và thắng lợi của đồng bào, chiến sĩ cả nước, nhất là những tin chiến thắng chiến trường miền Nam.

Tối hôm 30 Tết, Bác cùng đồng chí giúp việc ngồi trong một căn phòng vắng, tĩnh mịch thức để theo dõi tin tức trên đài và đón giao thừa. Khi ở Đài Tiếng nói Việt Nam tiếng pháo nổ vang tiễn năm Đinh Mùi và đón mừng năm Mậu Thân vừa dứt thì lời Thơ chúc Tết của Bác được truyền đi khắp mọi miền của Tổ quốc:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua

Thắng trận tin vui khắp nước nhà

Nam - Bắc thi đua đánh giặc Mỹ

Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!

Bác Hồ ngồi yên lặng đón giao thừa. Tiếng Bác đầu năm phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam hoà vào tiếng nhạc hùng tráng như một nguồn động viên cổ vũ lớn lao đối với đồng bào chiến sĩ cả nước:

Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!

Ánh mắt Bác lộ rõ niềm vui. Bỗng từ căn phòng nhỏ tĩnh mịch giữa lúc giao thừa thiêng liêng ấy, lời Bác nói một cách khe khẽ nhưng nghe rất rõ: “Giờ này miền Nam đang nổ súng”.

Thì ra trong lúc này, không phải Bác Hồ chỉ ngồi để nghe pháo nổ, đón giao thừa, mừng năm mới, mà chính lúc ấy lòng Bác đang hướng về Tổ quốc, hướng tới đồng bào, chiến sĩ đang chiến đấu hy sinh ngoài mặt trận.

Sáng sớm hôm mồng một Tết Mậu Thân, Bác nhận được tin “cả miền Nam đều nổ súng”. Kẻ thù hung ác của dân tộc lại bị một đòn đau bất ngờ, choáng váng. Bác Hồ vui trong niềm vui chiến thắng của chiến sĩ, đồng bào cả nước.

65. BIỂN CẢ DO CÁI GÌ TẠO NÊN?

Năm 1968, các ông Hà Huy Giáp, Lê Xuân Đồng, Phan Hiền được Bác Hồ mời đến trao đổi về việc biên soạn lại sách “Người tốt - Việc tốt”.

Bác chỉ chồng tài liệu cao gần nửa mét trên bàn và cho biết đó là những bài báo và báo cáo viết về hơn bốn nghìn người được Bác thưởng huy hiệu trong mấy năm qua. Bác đã sắp xếp lại thành 18 tập. Nếu kể cả tập thứ 19 đang làm dở dang thì số người được Bác khen đã lên tới năm nghìn.

Những tập tài liệu đều đóng bìa vở học sinh, giấy nền bên trong là giấy báo cũ. Những bài báo và báo cáo về Người tốt - Việc tốt được cắt dán cẩn thận trên giấy báo. Bài nào cũng mang bút tích của Bác bằng mực đỏ hoặc bút chì đỏ, ghi rõ tặng một hay mấy huy hiệu.

Bác nói đùa:

- Như thế là đã thành Bách khoa toàn thư rồi đấy. Từ đó, các chú chọn ra những tấm gương nào cần viết lại trước và viết cho thật tốt, để mọi người có ý thức làm theo, và làm hơn thế.

Bác trao cho ông Giáp mấy tờ giấy đánh máy ghi rõ mỗi ngành, mỗi giới, mỗi địa phương có bao nhiêu người được khen thưởng. Bác phê bình một số cán bộ lãnh đạo mải làm công tác sự vụ hơn là để tâm sức xây dựng con người mới…, cho nên không chịu theo dõi việc làm hàng ngày của quần chúng nhân dân… và hỏi:

- Hình như các chú cũng chưa coi trọng những việc nhỏ như thế?

Không đợi trả lời, Bác nói tiếp:

- Các chú có biết biển cả do cái gì tạo nên không? Từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông, rồi thành biển. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền mới đứng vững được. Nhưng người ta dễ nhìn thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý đến cái nền. Như thế thì chỉ thấy ngọn mà quên mất cái gốc.

Ngừng một lúc, Bác nói tiếp:

- Bác chỉ muốn nhắc nhở các chú một điều: Chớ bỏ qua những việc mà các chú tưởng là tầm thường. Nếu cứ ngồi kể lại những gương Người tốt - Việc tốt thì kể mãi cũng chẳng hết được. Tất cả những việc làm như vậy đều nói lên tinh thần yêu nước, đạo đức trong sáng, thuần phong mỹ tục của nhân dân ta. Chúng ta đánh giặc và xây dựng mỹ tục của nhân dân ta. Chúng ta đánh giặc và xây dựng xã hội mới bằng những việc làm muôn hình muôn vẻ của hàng chục triệu con người như thế, chứ không phải chỉ bằng thành tích nổi bật của một số cá nhân anh hùng…

66. TỤC LỆ TỐT ĐẸP

Bác Hồ giản dị trong cả cách nói, cách viết. Một số người sính ngoại có những lời văn cầu kỳ khó hiểu, Bác nhắc nhở, phê bình ngay.

Có lần Bác đọc bài bình luận về một trận đánh thắng ở chiến trường miền Nam. Bài bình luận viết: Đây là chiến thắng long trời lở đất.

Bác cầm bút khoanh tròn trên mấy chữ “long trời lở đất” rồi phê vào bên: thế thì Bác cháu ta ở đâu?

Ngày 1-2-1969, đồng chí Nguyễn Văn Tạo, Tổng Cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp được mời lên gặp Bác để thông qua bài viết về Tết trồng cây. Trong bài có câu: Tết trồng cây đã thành một mỹ tục của toàn dân ta.

Bác đồng ý với nội dung, nhưng sửa lại: đã thành một tục lệ tốt đẹp của nhân dân ta.

Một lần khác, Bác tới xem triển lãm hàng gốm sứ do trường Cao đẳng Mỹ thuật công nghiệp trưng bày. Bác khen hàng đẹp và hỏi: Có phải nhập nguyên liệu của nước ngoài không?

Đồng chí Nguyễn Khang thưa: Thưa Bác, đại bộ phận là ở trong nước ạ.

Bác cười bảo: Sao chú không nói là phần lớn nguyên liệu mà lại nói là đại bộ phận?

Bác thường căn dặn: Tiếng nói, chữ viết của dân tộc ta rất giàu, rất đẹp, nếu thiếu thật mới đi mượn của nước ngoài, các chú cần chú ý.

67. BÁC TẶNG QUÀ

Vào một ngày đầu năm 1969, Bác Hồ thân mật tiếp đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đan Mạch sang thăm hữu nghị nước ta. Chúng tôi, những phóng viên tin và ảnh được cử lên Phủ Chủ tịch phục vụ cuộc tiếp khách quốc tế của Bác.

Nhà khách Phủ Chủ tịch lộng lẫy, nhưng Bác tiếp khách quý thật giản dị, đơn sơ mà thân mật, ấm cúng vô cùng. Cái không khí gia đình lấn chiếm cả căn phòng to rộng, trang nghiêm.

Thân mật tiếp chuyện những người bạn Đan Mạch thân thiết, Bác cười luôn và nói vui nhiều lần.

Bác mời thuốc lá đồng chí Chủ tịch Đảng Cộng sản Đan Mạch Cơnút Giétxpơxơn và các đồng chí trong đoàn. Xong, Bác quay lại phía tôi đang ngồi ngay sau Bác và Bác cũng cho tôi một điếu. Thật là hạnh phúc bất ngờ đối với tôi. Ôi, vô cùng cảm động và xiết bao vui sướng. Cầm điếu thuốc trong tay, tuy không hút nhưng cảm thấy khói thuốc tỏa hương bay thơm ngát quanh mình, như hơi thở ấm áp, yêu thương của Bác truyền vào tâm hồn dịu ngọt.

68. BÀI BÁO “NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG, QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN”

Ngày 25-1-1969, Bác cho mời đồng chí phụ trách Tuyên huấn của Đảng đến giao nhiệm vụ chuẩn bị bài viết Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Bác nói rõ mục đích, nội dung và nhấn mạnh yêu cầu quan trọng của bài báo. Ngày 28-1-1969, Bác sửa lại bài viết rồi cho đánh máy thành nhiều bản gửi đến từng đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị đề nghị tham gia ý kiến. Đây hẳn cũng không phải là một việc ngẫu nhiên. Dưới hình thức tham gia một bài viết trong dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng, mỗi đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị sẽ có trong tay một tài liệu mà câu đầu tiên là: Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Chiều 30-1, Bác cùng Văn phòng đọc lại từng ý kiến đóng góp của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị bổ sung vào bản thảo rồi cho đưa đi đánh máy. Bác dặn đánh máy xong gửi cho Bác một bản. Ngày 1-2, 15h30, đồng chí phụ trách Tuyên huấn sang gặp Bác, xin bản thảo chính thức để kịp gửi đăng báo. Cầm bản thảo cuối cùng do Bác tự tay đánh máy, đồng chí phụ trách Tuyên huấn đề nghị với Bác xin sửa lại đầu đề: đưa vế “nâng cao đạo đức cách mạng” lên trước, chuyển vế “quét sạch chủ nghĩa cá nhân” ra phía sau với lý do cán bộ đảng viên ta nói chung là tốt, ưu điểm là cơ bản. Bác quay sang hỏi đồng chí cán bộ Văn phòng: “Ý kiến chú thế nào?”. Đồng chí cán bộ Văn phòng cũng nhất trí. Bác Hồ im lặng suy nghĩ, cuối cùng Bác nói: “Ý kiến của các chú Bác thấy cũng có lý. Nhưng Bác còn phân vân điều này: gia đình các chú tiết kiệm mua sắm được bộ bàn ghế, giường tủ mới. Vậy trước khi kê vào phòng, các chú có quét dọn nhà cửa sạch sẽ hay cứ để rác rưởi bẩn thỉu mà khiêng bàn ghế, giường tủ vào?”. Anh em đang lúng túng chưa biết trả lời thế nào thì Bác đã nói: “Vì cả hai chú đã đề nghị, là đa số, Bác đồng ý nhượng bộ, đổi lại tên đầu bài là Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Nhưng ở trong bài thì dứt khoát phải để nguyên ý của Bác: Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”. Ý tứ ấy của Bác, cho mãi đến hôm nay càng thấy vô cùng sâu sắc.

69. CÂU CHUYỆN BÁC ĐI THĂM RỪNG CÚC PHƯƠNG

Mỗi lần đi công tác, Bác thường bảo nắm cơm ở nhà mang đi ăn. Trên đường, tính toán đến giờ ăn cơm Bác cháu dừng lại một chỗ nào giữa đường ăn với nhau. Đến nơi, Bác nói với địa phương đã ăn cơm rồi. Bác thích thế, đỡ phiền bữa cơm, mất thì giờ của anh chị em. Bác nói: “Người ta dọn ra một bữa sang, có khi Bác chẳng ăn đâu, nhưng rồi để lại cái tiếng: Đấy, Bác Hồ đến thăm cũng làm bữa cơm sang, cũng điều người này, người khác từ giao tế sang, chuẩn bị cả buổi, thế là tự Bác, Bác bao che cho cái việc xôi thịt. Không, như thế thì nắm cơm mang theo ăn cho tiện, ăn no rồi đến làm việc”.

Tháng 2-1969, Bác muốn đi thăm rừng quốc gia Cúc Phương. Một số đồng chí lãnh đạo giới thiệu ở đó có nhiều cái hay. Anh em mới xin: Thôi, chuyến này đi thăm rừng quốc gia Cúc Phương, Bác đi máy bay lên thẳng cho đỡ mệt. Bác không chịu: “Các chú cho hễ là Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước thì đi đâu muốn dùng phương tiện gì thì dùng à? Không phải thế đâu. Để Bác khoẻ lên, Bác đi ô tô đến thăm rừng Cúc Phương. Không như thế thì thôi. Máy bay lên thẳng để khi nào có người của chúng ta bị tai nạn hoặc bị đau nặng ở vùng hẻo lánh khó chạy chữa thì dùng đón về nơi trung tâm có bệnh viện lớn. Hoặc lúc nào nước sông lên to, mùa bão cần đi hộ đê thì lấy máy bay lên thẳng mà dùng. Chứ không phải bất kỳ đi đâu, Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước cứ dùng máy bay lên thẳng mà đi”. Và vì thế nên việc đi thăm rừng Cúc Phương cuối cùng không thực hiện được. Nhưng thà thế chứ Bác không muốn dùng máy bay lên thẳng.

70. THẾ CÁC CHÚ CÓ BIẾT VĂN PHÒNG TRUNG ƯƠNG XÂY DỰNG Ở CHỖ NÀO THÌ TỐT NHẤT KHÔNG?

Trong buổi Bác dự phê duyệt quy hoạch thành phố Hà Nội, đồng chí Bí thư­ Thành ủy Hà Nội đã đề nghị Bác cho chuyển Thủ đô sang phía Vĩnh Yên, vì ở Hà Nội hiện nay khí hậu rất nóng. Đồng chí Bí thư Thành ủy dứt lời, Bác c­ười và bảo:

- Từ x­a xưa tổ tiên mình xây dựng Kinh đô bên này sông Hồng là có ý cả. Bây giờ đồng bào miền Nam vẫn hàng ngày hàng giờ gian khổ chiến đấu mà trái tim vẫn hư­ớng về Thủ đô Hà Nội, nếu mình dời Thủ đô đi nơi khác thì đồng bào sẽ nghĩ thế nào? Thôi thì bây giờ chú cứ sang bên ấy, còn Bác ở lại bên này nhé!

Nghe vậy mọi người c­ười ồ mà thật thấm thía. Một đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ư­ơng đề nghị xin chuyển Văn phòng Trung ­ương về vị trí trư­ờng Anbe Sarô cũ vì ở đó v­ườn rộng hơn, vị trí đẹp hơn. Nghe thế Bác bảo ngay: Văn phòng Trung ư­ơng nh­ư thế đẹp rồi! Im lặng một lúc Bác quay lại hỏi mọi người:

- Thế các chú có biết Văn phòng Trung ­ương xây dựng chỗ nào thì tốt nhất không?

Thấy mọi người nhìn nhau, Bác chỉ tay vào ngực mình và nói tiếp:

- Xây ở trong này, trong lòng nhân dân là tốt nhất!

Phần VI

51. NHỮNG VỊ KHÁCH TÍ HON

Có một lần, vào dịp sinh nhật Bác Hồ, vừa mới sáng sớm, đồng chí Kỳ - thư ký cùng các con mình và con đồng chí Cẩn - người nấu ăn cho Bác, mang hoa vào để chúc thọ Bác. Thấy các cháu đến, Bác Hồ rất vui, nhưng vì đang làm dở công việc nên Bác bảo đồng chí Kỳ đưa các cháu xuống nhà lấy nước và bánh kẹo mời các cháu, làm việc xong Bác sẽ xuống gặp và vui với các cháu. Đồng chí Kỳ dẫn các “vị khách tí hon” xuống nhà nhưng nghĩ đây là con mình và con anh Cẩn nên không mời các cháu vào phòng mà để các cháu chơi tha thẩn ngoài vườn. Một lúc sau, Bác xuống, nhìn thấy thế, Bác tỏ ý không bằng lòng, Người hỏi đồng chí thư kí: “Sao chú không lấy bánh kẹo, rót nước mời các cháu?”. Đồng chí Kỳ thưa với Bác: “Thưa Bác, đây là con cháu trong nhà nên xin Bác cứ để các cháu chơi ở sân, không cần phải tiếp bánh kẹo gì Bác ạ”. Biết đồng chí thư ký nghĩ chưa đúng, Bác ôn tồn nói, có ý phê bình: “Các cháu là con của các chú, nhưng là khách của Bác. Bác đang bận, thì chú phải tiếp giúp Bác”. Lời Bác nói nhẹ nhàng nhưng thật thấm thía. Hiểu được ý nghĩa lớn lao trong câu Bác nói và thấy khuyết điểm của mình chưa làm đúng ý Bác, nên đồng chí liền mời các “vị khách tí hon” vào phòng, lấy bánh kẹo và pha nước tiếp các cháu như những khách người lớn đến gặp Bác.

Những đồng chí được sống và làm việc cùng Bác, luôn thấy rõ Bác chu đáo với mọi người, từ em bé đến cụ già. Đặc biệt đối với các cháu thiếu nhi, Bác Hồ không những yêu thương, quý mến mà còn rất tôn trọng. Ở dưới nhà sàn, Bác cho làm thêm những bệ xi măng, trên có lát ván như những chiếc ghế để khi các cháu vào gặp Bác có chỗ ngồi. Bác còn đặt bể cá vàng cạnh nhà để tiếp các “vị khách tí hon”.

52. MÊNH MÔNG QUÁ

Bác Hồ của chúng ta là Chủ tịch nước, nhưng trong cuộc sống hàng ngày Bác không coi nhẹ các việc nhỏ. Bác thương yêu đồng bào cả nước, kiều bào ở nước ngoài, các dân tộc anh em bị áp bức. Một em bé da đen bị đói, một người con gái ở nước Pháp bị án tử hình đều làm Bác xúc động.

Bác không bằng lòng khi thấy nhiều cán bộ “ra vẻ hăng hái”, “kiên trung”, thấy bạn bè, đồng đội, đồng bào có lầm lỗi, chưa phân tích đầy đủ nguyên nhân khách quan, chủ quan, mức độ đã “vơ đũa cả nắm”, “đánh một đòn chết tươi”. Thường là, nếu cán bộ, đồng bào có điều gì không phải Bác lại nhận lỗi ấy về mình, “mong được lượng thứ”.

Năm 1960, trong một cuộc họp cán bộ, có đồng chí “lên án” gay gắt “bệnh lười biếng”, “công thần”, đòi phải “xử lý”… Bàn cãi hồi lâu, sắp hết giờ họp, Bác “xin được phát biểu”. Bác nói đại ý:

Bể cũng là nước, giọt nước cũng là nước. Trong Đảng hàng ngày là giọt nước hay là bể. Nếu nói lười biếng, công thần cũng là tư tưởng tư sản thì mênh mông quá.

53. NHÀ BÁC KHÔNG CÓ THỎ ĐÂU !

Đồng chí Vũ Kỳ, người đã nhiều năm đã giúp việc cho Bác Hồ kể lại:

Một lần, các cháu thiếu nhi vào Phủ Chủ tịch ríu rít quanh Bác. Một em hỏi:

- Thưa Bác, chúng cháu muốn xem nhà Bác Hồ ạ.

Bác cười tươi:

- Đây không phải là nhà Bác, đây chỉ là nơi làm việc của Bác thôi. Để Bác dẫn các cháu đi xem vườn hoa nhé!

Một cháu chạy vội bị vấp ngã, cô giáo chạy lại dỗ cháu:

- Nín đi! Nín ngoan, cô yêu, rồi cô cho đi xem con thỏ của Bác Hồ nuôi.

Bác ngắt một bông hoa, đến gần cháu bé dỗ:

- Cháu ngoan, Bác cho cháu bông hoa nhỏ, chứ nhà Bác không có thỏ đâu!

Cháu bé nín khóc, cầm hoa, một tay nắm ngón tay Bác để Bác dắt đi. Sau đó, Bác nói riêng với cô giáo:

- Đối với các cháu, dù còn nhỏ, cũng nên nói sự thật, làm gương tốt và tạo thói quen tốt cho các cháu.

54. MỘT CHUYẾN THĂM, BA BÀI HỌC

Sau hơn một tuần diễn ra trận chiến bảo vệ kho xăng Đức Giang, ngày 29-6-1966, Bác Hồ đến thăm một đại đội thuộc đoàn thông tin Sông Điện, bộ đội phòng không đóng ở chùa Trầm (Hoài Đức). Cuộc đi thăm không báo trước. Khi chiếc xe con dừng lại ở lưng chừng dốc, một chiến sĩ nhận ra Bác reo to lên. Bác giơ tay ra hiệu không được làm ồn ào rồi bảo chiến sĩ đó đưa Bác vào đơn vị.

Với đôi dép cao su giản dị, Bác đi rất nhanh lên sườn đồi, bộ quần áo bà ba nâu bay trong gió. Sau khi dừng lại xem câu lạc bộ, Bác nhanh nhẹn đi xuống nhà bếp. Thấy đồng chí Hào, tổ trưởng anh nuôi đang bê một nồi cơm to từ trên bếp lò xuống, Bác vui vẻ hỏi:

- Mỗi bữa chú ăn được mấy bát?

- Thưa Bác, cháu ăn được ba bát ạ.

- Chú ăn được như vậy là tốt - Nói xong, Bác mở hộp thuốc lá lấy ra một điếu đưa cho Hào.

- Bác biếu chú, chú hút đi.

Rồi Bác lấy một điếu khác ra để hút. Thấy Bác có ý tìm đóm để châm lửa, Hào vội rút bao diêm trong túi ra định bật diêm cho Bác, Bác liền ngăn lại:

- Chú để dành diêm mà nhóm bếp. Cả bếp lò đang hồng thế kia tha hồ cho Bác cháu ta châm thuốc.

Chỉ một que diêm mà Bác đã cho chúng tôi bài học sâu sắc về tinh thần tiết kiệm.

Ở bếp bước ra, Bác hỏi cán bộ đại đội:

- Các chú có trồng rau không?

- Thưa Bác, chúng cháu chỉ trồng được rau muống dưới chân núi thôi ạ. Còn trên sườn đồi này nhiều sỏi, trồng không lên.

Bác kể lại kinh nghiệm hồi ở chiến khu và bảo:

Các chú xúc hết đá đi, xới đất, xuống ao bốc bùn đổ lên, rau sẽ xanh tốt. Có trồng có ăn, đỡ phần cung cấp của nhân dân.

Từ đó, trên vách đá men theo con đường trong đơn vị, các vườn rau đua nhau mọc lên xanh tốt. Đơn vị không chỉ tự túc rau ăn mà còn bán cho đơn vị bạn và nhân dân nữa.

Bài học thứ ba Bác dạy cho chúng tôi là con đường mòn và công tác dân vận. Khi đơn vị chưa đóng ở chùa Trầm, bà con trong vùng vẫn đi làm đồng theo con đường mòn qua núi. Từ ngày đơn vị đến, anh em đã tự động rào lại, cấm người qua lại. Thăm qua mấy nơi, Bác bảo tập hợp bộ đội lại để Bác nói chuyện, Bác căn dặn:

- Muốn làm tốt nhiệm vụ, các chú phải đoàn kết nội bộ tốt, đoàn kết chặt chẽ với nhân dân địa phương, chỉ có dựa vào nhân dân, đoàn kết với nhân dân mới bảo vệ được mình, che mắt địch và đánh thắng được chúng.

Chợt Bác chỉ tay ra phía đường cái và hỏi:

- Thế các chú cấm con đường này thì nhân dân đi lối nào?

- Thưa Bác, đi vòng theo các bờ ruộng ngoài kia ạ.

Bác nghiêm mặt:

- Như vậy là không được. Các chú cấm đường để bảo mật, phòng gian là đúng, nhưng phải đắp đường khác cho dân đi chứ. Có như vậy mới đúng là quân dân đoàn kết.

Bác dặn đơn vị phải làm ngay, đắp đường cho to, trồng cây hai bên và khi nào làm xong báo cáo cho Bác biết. Ngay hôm sau, đơn vị bắt tay vào làm đường, làm cả trưa hè nắng lửa, đốt đuốc làm cả đêm. Con đường hoàn thành trước hạn định. Các cụ trong làng đem cây ra trồng hai bên. Con đường quân dân đoàn kết ấy được đặt tên là “Đường Quyết Thắng”- Con đường mang ý Bác, lòng dân, con đường đi của chúng tôi: vì nhân dân phục vụ.

55. HAI LẦN GẶP BÁC

Trung thu năm 1966, Thành đoàn tổ chức cho Câu lạc bộ thiếu nhi biểu diễn tại Nhà hát thành phố, có báo cáo mời Bác Hồ đến vui với các cháu.

Sắp đến giờ mở màn, mọi người nóng lòng mong Bác đến. Tôi (Lê Bùi) đang khẩn trương chuẩn bị phía trong sân khấu, thỉnh thoảng lại khẽ hé ri đô nhìn ra các hàng ghế đầu xem Bác tới chưa, nhưng chỗ Bác vẫn để trống mà phía sau đã ngồi đầy ắp ba tầng nhà hát.

Chợt có tiếng reo to: “Bác Hồ! Bác Hồ!”. Tôi quay lại đã thấy Bác đứng sau cánh gà trong bộ quần áo lụa giản dị, tay cầm chiếc quạt giấy nhẹ nhàng quạt cho mấy cháu đứng bên. Bác hỏi:

- Hôm nay các cháu biểu diễn gì?

- Dạ thưa Bác, hôm nay chúng cháu biểu diễn ca múa nhạc ạ.

Bác hỏi tiếp:

- Thế có tiết mục văn nghệ dân tộc không?

- Thưa Bác, có ạ.

Các cháu ríu rít quanh Bác, còn tôi, vì hồi hộp quá không biết nên thưa với Bác điều gì. Bác đi thăm các đồng chí phục vụ nhà hát rồi xuống xem biểu diễn. Tối biểu diễn hôm đó thành công tốt đẹp, vui, sôi nổi hơn bao giờ hết.

Một lần khác, tôi dẫn gần 100 cháu và cán bộ phụ trách vào biểu diễn phục vụ khách tại Phủ Chủ tịch.

Khi các cháu vừa hoá trang và chuẩn bị xong thì Bác và một số đồng chí từ nhà sàn đi tới trên con đường xoài mát rượi. Các cháu ùa ra đón Bác, còn tôi và mấy cán bộ đội chỉ đứng ngây ra nhìn Bác và đàn cháu nhỏ. Cháu nào cũng muốn chen vào để được gần Bác, để được Bác cầm tay, xoa đầu và hỏi han. Bác và các cháu đi dần về phía sân khấu nơi Bác sẽ tiếp khách.

Chợt Bác hỏi:

- Hôm nay các cháu làm gì mà đánh phấn, má hồng thế này? Thế không đánh phấn thì có biểu diễn được không? - Bác hỏi tiếp.

Các em đồng thanh trả lời:

- Thưa Bác có ạ.

Cán bộ phụ trách chúng tôi lúc ấy đều hiểu ý Bác: không nên quá câu nệ hình thức son phấn đối với tuổi thơ trong những buổi sinh hoạt thế này.

Cuối buổi biểu diễn, Bác cùng khách gọi các cháu đến để chia kẹo và chụp ảnh cùng Bác.

56. THẤU HIỂU PHONG TỤC CỦA MỘT DÂN TỘC

Có một lần, đoàn đại biểu phụ nữ Mỹ sang thăm nư­ớc ta theo lời mời của Trung ư­ơng Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Đoàn đến vào đúng dịp lễ Nôen. Trung ­ương Hội Liên hiệp Phụ nữ chuẩn bị chiêu đãi đoàn tại khách sạn Thống Nhất. Tr­ước đó, các đồng chí phụ trách Hội đã đến báo cáo với Bác ch­ương trình hoạt động của đoàn và dự kiến một buổi để Bác tiếp. Sau khi nghe báo cáo, Bác hỏi đồng chí phụ trách:

- Các cô định tổ chức chiêu đãi đoàn thế nào?

Đồng chí phụ trách báo cáo với Bác là sẽ chiêu đãi đoàn những món ăn dân tộc của Việt Nam. Ngoài ra trong phòng còn đặt một cây thông Nôen như­ phong tục của người Mỹ trong ngày lễ này. Nghe xong Bác cười và bảo:

- Các cô tiếp đoàn bằng những món ăn dân tộc nh­ư thế là tốt, nh­ưng theo Bác biết ở Mỹ ăn mừng lễ Nôen bao giờ cũng có món thịt gà tây đ­ược đặt nguyên cả con. Các cô nên làm thêm món đó.

Biết đ­ược chi tiết đó, các đồng chí phụ trách đã cho chuẩn bị đúng như­ vậy. Trong buổi chiêu đãi, tất cả các thành viên trong đoàn phụ nữ Mỹ rất ngạc nhiên và cảm động. Trong khi Chính phủ Mỹ đang gây biết bao tội ác đối với dân tộc Việt Nam mà đoàn lại đ­ược những người phụ nữ Việt Nam tiếp đón hết sức ân cần, chu đáo.

Thì ra phong tục trên đây Bác Hồ biết trong thời gian Ng­ười sống và làm việc ở nư­ớc Mỹ cách đây hơn 50 năm. Vậy mà đến bây giờ Bác vẫn còn nhớ rất kỹ. Đúng là Bác Hồ không những yêu th­ương, quý trọng người dân lao động mà còn thấu hiểu cả phong tục, tập quán của cả những dân tộc các n­ước mà Bác đã đi qua.

57. CHÁU TẬP ĐÀN MỘT TAY CÓ KHÓ LẮM KHÔNG?

Cả hội trường như lắng xuống khi âm thanh của cây đàn ghi ta trong lòng người nghệ sĩ một tay cất lên. Âm thanh cuối cùng của bản nhạc chưa kịp tan ra, hàng tràng vỗ tay đã vang dội, tiếng vỗ tay đòi phải diễn lại một lần nữa... Màn sân khấu chưa kịp đóng lại, khán giả đã ùa lên. Các đồng chí của đoàn nghệ thuật quân đội Liên Xô quây quanh người nghệ sĩ với cây đàn. Có người đưa cả hai tay nắm chặt bàn tay còn lại của người nghệ sĩ lắc lắc, nước mắt rưng rưng. Đó là tiết mục của nghệ sĩ thương binh Vân Hoàng, đoàn ca múa Tổng cục Chính trị.

Ngày hôm sau, Vân Hoàng được lên gặp Bác tại Phủ Chủ tịch. Nắn nắn cánh tay còn lại của Vân Hoàng đang lặng đi vì xúc động, Bác dẫn anh ngồi xuống ghế và hỏi thăm gia đình, quê hương và cuộc đời của anh: “Hôm qua cháu đàn, các đồng chí Liên Xô hoan nghênh lắm. Hôm nay Bác gọi cháu đến hỏi chuyện. Cháu về với Bác hôm nay như về thăm gia đình, không phải bỡ ngỡ gì cả”. Và ân cần, nhân hậu như một người cha, Bác hỏi: “Cháu bị thương từ bao giờ? Cháu tập đàn một tay có khó lắm không?”. Cả buổi sáng Bác chăm chú ngồi nghe Vân Hoàng kể chuyện, chuyện đời anh, chuyện gia đình, làng xóm và nghe kể quá trình khổ luyện của người nghệ sĩ thương binh. Một bàn tay với năm ngón, vừa bấm phím đàn, vừa gẩy đàn bằng ngón tay út thay thế cho cả một bàn tay đã mất... Bác nghe và hỏi anh rất tỉ mỉ, lúc đầu tập thế nào, tập rung, tập luyến láy ra sao và vì sao lại kiên trì được như thế. Nghe đến những cảnh khổ mà Hoàng phải chịu, mắt Bác đượm buồn. Bác còn mời Vân Hoàng ăn cơm và hỏi: “Bây giờ cháu đàn còn khó khăn gì không?”. “Thưa Bác, do cháu phải gẩy trên cần đàn nên tiếng không vang được, cháu mong ước có một máy tăng âm”. Bác gật đầu và bảo chiều Vân Hoàng đến đàn cho Bác nghe. Bác muốn nghe riêng những bài mà anh sẽ biểu diễn tối nay trong tiệc thết đoàn nghệ thuật quân đội Liên Xô. Chiều hôm đó Vân Hoàng nhận được một bộ tăng âm mới.

58. BÁC MONG CÓ NHIỀU “CỐC” HƠN NỮA

Tết năm 1967 (Đinh Mùi), Bác đến thăm quân chủng Phòng không không quân. Cùng đi với Bác còn có đồng chí Nguyễn Lương Bằng và Thượng tướng Văn Tiến Dũng. Cây gậy trúc trước kia thường dùng để đi rừng, bây giờ theo tay Bác đến thăm bộ đội Phòng không không quân, một quân chủng vừa mới thành lập, nhưng ngay từ những trận đầu ra quân đánh trả “không lực Hoa Kỳ” đã chiến thắng vẻ vang.

Đang trong không khí ngày Tết, lại vừa thắng lợi giòn giã xong, nay được Bác đến thăm ai nấy đều rất vui mừng, phấn khởi. Bác thân mật hỏi:

- Buổi họp mặt hôm nay có mấy đồng chí là anh hùng quân đội?

- Thưa Bác, có năm đồng chí ạ - Đồng chí chính ủy quân chủng báo cáo với Bác.

Bác gật đầu rồi hỏi:

- Đồng chí nào hạ nhiều máy bay Mỹ nhất?

- Thưa Bác, đồng chí Nguyễn Văn Cốc đã bắn rơi chín chiếc.

Bác liền gọi:

- Chú Cốc lên đây! - Và Bác tươi cười nói vui - Năm nay Bác mong muốn có nhiều “Cốc” hơn nữa!

Cả hội trường rộn lên tiếng cười vui vẻ.

Anh hùng lái máy bay Nguyễn Văn Cốc bước lên đứng cạnh Bác. Bác thân thiết ôm hôn Cốc giữa tiếng vỗ tay nồng nhiệt. Bác quay xuống hàng quân, nói:

- Thế còn các cháu gái đâu? Cử một cháu gái, một bác sĩ, một y tá, một chiến sĩ nuôi quân lên đây Bác bắt tay.

Cả hội trường nhìn nhau hồi hộp. Những tràng pháo tay lại nổi lên giòn giã. Tất cả cùng sung sướng khi thấy các chiến sĩ vừa được cử lên được Bác bắt tay, ân cần hỏi han. Bác kéo tất cả các chiến sĩ đó đứng quây quần quanh Bác. Mái tóc bạc phơ, chòm râu như tuyết của Bác nổi lên giữa những mái đầu xanh và cành đào lớn tươi nở sao mà đẹp vậy! Bác giới thiệu Thượng tướng Văn Tiến Dũng nói chuyện trước bộ đội. Sau đó, Bác tươi cười căn dặn mọi người:

- Các cô, các chú bộ đội phải luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu để nó dở quẻ là mình đập lại được ngay!…

Đến lúc ra về, một lần nữa Bác lại nắm tay anh hùng Nguyễn Văn Cốc giơ lên nói:

- Năm mới, chúc các cô các chú lập được nhiều chiến công mới, có nhiều “Cốc” hơn nữa.

59. BÁC ĐẾN

Hôm đó là ngày 30-5-1967, chúng tôi đang chuẩn bị công việc buổi sáng như thường lệ thì có thông báo mời các trưởng ban lên phòng họp của Viện có việc đột xuất.

Khoảng 30 phút sau, từ phòng họp, đồng chí Trưởng ban chạy về, báo cho chúng tôi một tin vui:

- Bác sắp về!

Cả Viện Quân y 7 rộn rã hẳn lên. Chúng tôi, mỗi người lao vào một việc để chuẩn bị đón Bác. Tim tôi đập dồn dập. Mỗi khi nghe tiếng ô tô chạy ngoài đường là chúng tôi đổ xô ra cửa, chỉ sợ Bác đến lúc nào không biết.

Một đoàn xe con dừng bánh. Chúng tôi chạy ùa ra cửa, mặc dù đã được nhắc trước là ai ở buồng nào thì ngồi tại buồng đó, Bác sẽ lần lượt đến thăm. Ai cũng muốn được nhìn thấy Bác đầu tiên. Sau khi báo cáo tình hình, đồng chí Viện trưởng mời Bác vào phòng trực tra thuốc phòng và mặc áo choàng, Bác cười:

- Các chú định cho Bác làm bác sĩ hay sao?

- Thưa Bác, để phòng bệnh ạ.

- Xin chấp hành.

Vừa nói Bác vừa mặc áo choàng, đội mũ, đeo mạng bịt miệng theo sự hướng dẫn của đồng chí Viện trưởng. Các cán bộ đi theo Bác đều làm theo Bác.

Bác đi lên cầu thang gác ban Nội 2. Cán bộ, nhân viên và thương, bệnh binh chúng tôi đứng dưới cầu thang khá đông, nhiều anh em tỏ ý muốn Bác bỏ mũ và khẩu trang để được nhìn thấy rõ Bác. Đang đi lên cầu thang, khi biết nguyện vọng của anh em, Bác tươi cười quay lại:

- Bác không phải là bác sĩ. Bác không muốn là bác sĩ giả. Nhưng đồng chí Viện trưởng bảo để phòng bệnh thì Bác phải chấp hành. Các cháu hỏi bác sĩ đây có đồng ý cho Bác bỏ mũ và bịt miệng ra không?

Bác vừa nói xong, bác sĩ Viện trưởng thưa với Bác là có thể được vì khu vực này không phải là khu lây. Bác sĩ Viện trưởng vừa đỡ lấy chiếc mũ và cởi chiếc khẩu trang của Bác ra, chúng tôi đứng dưới cầu thang vỗ tay vang dội, sung sướng đến chảy nước mắt. Tôi lách vào đứng thật gần Bác để được nhìn rõ Bác.

Một đồng chí thương binh giơ tay hô: “Hồ Chủ tịch muôn năm”. Bác khoát tay ra hiệu không được hô. Bác bảo:

- Ở đây là bệnh viện, phải giữ yên tĩnh để các cô, các chú đang mệt nghỉ ngơi.

Bác vào thăm một buồng nữ bệnh nhân của ban Nội 1. Chị Huệ, một thương binh miền Nam tập kết, trông thấy Bác chị reo lên: “Bác”, rồi oà lên khóc. Bác bước đến bên cạnh chị và hỏi:

- Tại sao cháu lại khóc? Bác đến thăm, cháu phải vui chứ!

Chị Huệ nghẹn ngào:

- Thưa Bác, khi đi tập kết, ba, má, đồng bào miền Nam dặn cháu: Ra miền Bắc thưa với Bác Hồ… nói đến đây chị lại khóc nấc lên không sao nói được nữa. Bác cảm động cầm tay chị Huệ một lúc lâu. Mọi người đứng xung quanh cũng xúc động lặng đi. Một lát sau, chị Huệ lau nước mắt nhìn Bác, thưa tiếp.

- Thưa Bác, hôm nay được gặp Bác cháu mừng quá, cháu khóc đấy ạ!

- À, thế là mừng quá cũng khóc.

Mọi người đứng xung quanh cùng cười…

Bác đi thăm các cơ sở điều trị của thương binh, nhà bếp, nhà ăn, nhà vệ sinh. Sau đó Bác ra sân, đứng lên bậc của một chiếc xe con nói chuyện với anh chị em chúng tôi. Sau khi nói về tình hình nhiệm vụ, Bác dặn anh em thương binh, bệnh binh phải yên tâm tin tưởng vào thầy thuốc thì chữa bệnh mới chóng khỏi, phải đoàn kết với cán bộ, nhân viên của bệnh viện. Đối với cán bộ, nhân viên, Bác dặn phải đoàn kết chặt chẽ giữa cán bộ chính trị với cán bộ chuyên môn, phải hết lòng hết sức chữa cho bệnh nhân, phải coi người bệnh như những người ruột thịt, thân thiết nhất của mình.

Bác nói xong, từng tràng vỗ tay nổi lên vang dậy. Xe đã nổ máy nhưng không ai muốn rời Bác. Bác khoa tay và hỏi:

- Bác vừa nói như vậy, các cháu có thực hiện được không?

- Có ạ!

- Các cháu có nghe lời Bác không?

- Có ạ!

- Nghe lời Bác thì đứng tránh xa cho xe Bác đi.

Chúng tôi lại vỗ tay ran lên…

Giữa tiếng vỗ tay, chiếc xe ô tô con sơn màu sữa từ từ chuyển bánh. Ánh nắng rực rỡ của một buổi sáng tháng 5 đan vào chùm phượng vĩ nở đỏ rực đung đưa theo gió. Bác tiếp tục đi thăm thành phố mới được giải phóng.

60. TẤM LÒNG BÁC HỒ VỚI CHIẾN SĨ PHÒNG KHÔNG

Mùa hè năm 1967, trời Hà Nội rất nóng, Bác nói với đồng chí th­ư ký riêng Vũ Kỳ: “Nắng nóng thế này, các chú bộ đội trực phòng không trên nóc hội trư­ờng Ba Đình thì chịu sao được? Các chú ấy có đủ nư­ớc uống không? Chú thử tìm hiểu xem thế nào, về cho Bác biết”. Đồng chí Vũ Kỳ lên, đ­ược biết trên đó có một tổ súng máy 14 ly 5, ụ cát sơ sài, nếu địch bắn vào thì rất nguy hiểm. Trời nắng chói, đứng một lúc mà hoa hết cả mắt. Đồng chí Vũ Kỳ hỏi: “Các đồng chí có n­ước ngọt uống không?”. “Nư­ớc chè th­ường còn chư­a có, lấy đâu ra n­ước ngọt!”. “D­ưới hội tr­ường thấy có n­ước ngọt cơ mà!”. “Đấy là dành cho các “ông bà” đến họp mới đ­ược uống, còn bọn tôi lấy đâu ra!”. Đồng chí Vũ Kỳ về nói lại với Bác, Bác gọi điện ngay cho đồng chí Tổng Tham m­ưu tr­ưởng: “Sao các chú không lo đủ n­ước uống cho các chiến sĩ trực phòng không? Nghe nói ụ súng trên nóc hội tr­ường Ba Đình rất sơ sài, chú phải lo sửa ngay để bảo đảm an toàn cho chiến sĩ trong chiến đấu!”. Sau đó, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ đi lấy sổ tiết kiệm của Bác, xem tiền tiết kiệm của Bác còn bao nhiêu. Lư­ơng của Bác cao nhất n­ước, nh­ưng hàng tháng cũng chỉ đủ chi tiêu. Mọi chi phí cho sinh hoạt của Bác, từ cái chổi lông gà đều ghi vào lư­ơng cả. Tiền tiết kiệm của Bác do các báo trả nhuận bút cho Bác. Bác viết bài nhiều, có năm hàng trăm bài. Các báo gửi đến bao nhiêu, Văn phòng đều gửi vào sổ tiết kiệm của Bác. Đồng chí Vũ Kỳ xem sổ và báo cáo: “Th­ưa Bác, còn lại tất cả hơn 25.000 đồng (lúc đó là một món tiền lớn, tư­ơng đ­ương với 60 lạng vàng)”. Bác bảo: “Chú chuyển ngay số tiền đó cho Bộ Tổng Tham mư­u và nói đó là quà của Bác tặng để mua nước ngọt cho anh em chiến sĩ trực phòng không uống, không phải chỉ cho những chiến sĩ ở Ba Đình, mà cho tất cả các chiến sĩ đang trực chiến trên mâm pháo ở khắp miền Bắc. Nếu số tiền đó không đủ thì yêu cầu địa phương nào có bộ đội phòng không trực chiến góp sức vào cùng lo!”.

Về sau Bộ T­ư lệnh Phòng không không quân báo cáo lại cho Văn phòng Phủ Chủ tịch biết: số tiền của Bác đủ mua n­ước uống cho bộ đội Phòng không không quân được một tuần.